【HỎI】Tiểu luận về nhãn hiệu Sở hữu trí tuệ

31/03/2018 13:02

1. Ý nghĩa của đề tài

Ngày nay, tài sản trí tuệ ngày càng được coi trọng và được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu. Không chỉ các nước phát triển mà các nhóm quốc gia khác cũng dần ý thức được tầm quan trọng của việc bảo hộ các tài sản vô hình này.

Tài sản trí tuệ là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nó ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của các nhà đầu tư và một cách gián tiếp- quyết định sự thành bại của một thương hiệu hay một doanh nghiệp.

Với một nước đang phát triển và hội nhập mạnh mẽ như Việt Nam, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ càng đóng một vai trò quan trọng trong việc thâm nhập thị trường thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy, bảo hộ sở hữu trí tuệ còn là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và nói rộng ra là cho mỗi quốc gia.

Tuy nhiên, vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng nói trên cho nên việc bảo hộ các thương hiệu Việt Nam quá lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng vi phạm bảo hộ sở hữu trí tuệ ngày càng nghiêm trọng.

Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa thật sự hoàn thiện cộng với việc nhà nước chưa tuyên truyền phổ biến rộng rãi các kiến thức về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp và người tiêu dùng cũng là một trong những nguyên nhân của vấn nạn trên.

Và đó chính là những lý do thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài này.

2. Mục tiêu nghiên cứu:

Hiểu được sở hữu trí tuệ là gì, bảo hộ sở hữu trí tuệ là gì, giới thiệu về luật sở hữu tri tuệ, các công ước và hiệp định Việt Nam đã tham gia. Từ thực tiễn bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam mà đề xuất một số giải pháp nâng cao việc thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI).

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những thành tựu và hạn chế đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam ở thị trường trong nước và quốc tế.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài này được thực hiện dựa trên những phương pháp cơ bản sau:

-  Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin

-  Phương pháp thống kê các số liệu liên quan đã thu thập được ở các sở ban ngành.

-  Phương pháp phân tích: tổng hợp các thông tin có được để đưa ra giải pháp

-  Phương pháp so sánh: so sánh các số liệu thống kê của năm sau so với năm trước.

5. Bố cục của đề tài:

Nội dung đề tài gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan bảo hộ sở hữu trí tuệ

Chương 2: Cơ sở pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Chương 3: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam và Giải pháp nâng cao thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

I. Sở hữu trí tuệ là gì?

1.1 Khái niệm

Theo ESCAP: “Sở hữu trí tuệ bao gồm mọi đối tượng do trí tuệ con người tạo ra mà cá nhân được trao quyền sỡ hữu nó có thể sử dụng hợp pháp đối tượng đó, tùy theo ý muốn của mình mà không bị bất cứ người nào khác can thiệp.”

Sở hữu trí tuệ, hay có khi còn gọi là tài sản trí tuệ, là những sản phẩm sáng tạo của bộ óc con người. Nó được chia thành 2 nhóm như sau:

  • Sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu dịch vụ, tên gọi xuất xứ.
  • Quyền tái bản: tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sản phẩm phần mềm công nghệ thông tin.

Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền đối với những sản phẩm sáng tạo nói trên.

1.2 Quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ

Hiện nay, người ta ngày càng quan tâm tới các vấn đề sở hữu trí tuệ. Nhưng đáng tiếc là vấn đề này lại thường xuyên được đề cập theo chiều hướng nhấn mạnh đến những điều gây tranh cãi và những tranh luận trái ngược nhau. Thực ra có rất nhiều nội dung về bảo vệ sở hữu trí tuệ mà mọi người có thể nhất trí được với nhau.

Để hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này, chúng ta cần dành một chút thời gian xem xét quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và vai trò của IPR trong việc đạt được những những mục tiêu chung. Sau khi xem xét, chúng ta đi tới một kết luận rằng việc bảo vệ sở hữu trí tuệ đóng một vai trò sống còn trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không thôi sẽ không thể có được những phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng một quốc gia khó có thể đạt được những mục tiêu phát triển nếu không có sự bảo vệ này.

1.2.1 Bản quyền và văn hóa

Chúng ta có thể ghi nhận khái niệm về “bản quyền” đã có từ thế kỷ 17 ở nước Anh với luật bảo vệ những tác phẩm sáng tạo của văn sỹ, nghệ sỹ, ca sỹ và sau này là các nhà làm phim và chuyên gia viết phần mềm. Khái niệm này thậm chí còn được trang trọng ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ tại Điều I, Mục 8, Khoản 8 “Quốc hội có quyền … nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học và nghệ thuật bằng cách đảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát minh trong một khoảng thời gian nhất định đối với những tác phẩm và phát minh của họ”.

Ý tưởng cơ bản về bản quyền này rất đơn giản: Các nghệ sỹ và người sáng tác cần phải được hưởng thành quả lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó thì những thành quả này sẽ thuộc về toàn thể xã hội. Xã hội được lợi bởi quy định này sẽ khuyến khích sáng tạo và tạo ra những sản phẩm văn hóa phong phú đa dạng cho mọi người. Thực chất thì chúng ta có thể nói rằng bảo hộ bản quyền là điều cần thiết để đảm bảo sự sáng tạo văn hóa trong xã hội.

Nhưng nếu việc bảo hộ bản quyền là quan trọng trong việc đạt được những thành quả văn hóa thì đương nhiên việc ăn cắp những sản phẩm được bảo hộ bản quyền - tức là việc sao chép trái phép các sản phẩm văn hóa - là mối nguy hại cho lĩnh vực sáng tác trong xã hội chúng ta. Nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) và thậm chí cả Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đều thừa nhận mối liên hệ này. Thực ra, nếu chúng ta truy cập trang web của UNESCO (http://www.unesco.org) thì chúng ta sẽ thấy cả một phần được dành cho vấn đề bản quyền và một danh sách các chương trình và ấn phẩm giải thích rõ hơn cho chúng ta về lợi ích của bản quyền đối với những chính sách văn hóa, khoa học, giáo dục và giúp ta có những phương thức chống lại nạn ăn cắp bản quyền.

Cho dù gần đây báo chí nói nhiều đến việc tải phim và nhạc trên mạng ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, nhưng thực ra những vi phạm nghiêm trọng phần lớn lại xảy ra ở các nước đang phát triển. Nhiều giọng ca mới, nhiều tác giả và kịch bản phim đã không thể ra đời đơn giản chỉ vì các nghệ sỹ này không có đủ động lực để chấp nhận mạo hiểm. Họ biết rằng cho dù họ có sản xuất ra sản phẩm gì chăng nữa thì sản phẩm của họ ngay lập tức sẽ bị sao chép - ăn cắp - và họ không được cung cấp đủ tiền bạc để phát triển tài năng của mình.

Đây không phải là một lập luận trừu tượng: Việc ăn cắp bản quyền diễn ra ở tất cả các châu lục. Một ví dụ điển hình là Hồng Kông, nơi ngành công nghiệp điện ảnh phát triển mạnh đã bị ảnh hưởng ghê gớm bởi nạn ăn cắp bản quyền đến nỗi một vài năm trước đây người ta dự đoán rằng Hồng Kông sẽ không giữ được ngành công nghiệp điện ảnh nữa. Hiện nay, ngành công nghiệp này ở Hồng Kông đang khởi sắc trở lại và khán giả khắp nơi trên thế giới được thưởng thức những bộ phim mới rất hay do chính quyền Hồng Kông đã mạnh tay xử lý nạn ăn cắp bản quyền. Các xưởng phim trong ngành công nghiệp điện ảnh của Băng-la-đét “Dhaliwood” đã đình công vào tháng 3 năm 2004 nhằm phản đối tình trạng ăn cắp bản quyền và yêu cầu chính phủ phải hành động. Những tiến triển tương tự cũng đã diễn ra trong ngành âm nhạc trên thế giới. Các nhạc sỹ Ê-ti-ô-pia đã đình công bảy tháng liền vào năm 2003 nhằm gây áp lực đòi chính phủ phải có những biện pháp chống nạn ăn cắp bản quyền mạnh mẽ hơn. Các nghệ sỹ này đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ những tác phẩm của họ trước những kẻ xâm phạm bản quyền.

1.2.2 Bằng sáng chế và sự đổi mới

Bằng sáng chế bảo hộ rất nhiều các loại phát minh như kiểu dáng công nghiệp, quy trình sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, hợp chất phân tử. Bằng sáng chế cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ giống như bản quyền. Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền thúc đẩy “sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật” bằng cách cho các nhà phát minh được hưởng độc quyền tối cao trong một thời gian nhất định đối với những “phát minh” của họ.

Khái niệm về bằng sáng chế dựa trên cơ sở thỏa hiệp có đi, có lại. Nhà phát minh hay sáng chế có độc quyền tối cao trong việc sử dụng phát minh của mình trong một thời gian nhất định. Để đổi lại, quy định của hầu hết các quốc gia đều yêu cầu nhà phát minh công bố phương pháp tìm ra phát minh để cho mọi người có thể hiểu và học hỏi được từ những phát minh này. Sau khi thời hạn bảo hộ phát minh hết hạn thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng hay bán phát minh này. Nhà phát minh được khuyến khích về mặt kinh tế để chấp nhận rủi ro và sáng tạo; xã hội nhận được lợi ích của phát minh và kiến thức của nhà phát minh được ứng dụng trong những lĩnh vực khác.

Người Mỹ luôn tự hào là một dân tộc có nhiều nhà phát minh sáng chế sẵn sàng thử nghiệm những cái mới trong cả ngành công nghiệp lẫn cả trong chính trị. Vì vậy, bằng sáng chế là một phần quan trọng trong lịch sử phát triển của Hoa Kỳ. Mặc dù hầu hết học sinh Mỹ có thể không biết rằng bằng sáng chế được đề cập tới trong Hiến pháp nhưng nhiều học sinh biết qua các bài học rằng một trong những bằng sáng chế đầu tiên được cấp cho máy tỉa hột bông của Eli Whitney, chiếc máy có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển sau này của Hoa Kỳ.

Nếu những gì đã diễn ra ở Mỹ là đúng quy luật thì nó cũng sẽ đúng ở các quốc gia khác, kể cả ở những quốc gia đang phát triển. Việc bảo hộ chặt chẽ sở hữu trí tuệ không những chỉ thúc đẩy sức sáng tạo mà còn tạo ra niềm tin vững chắc vào nền kinh tế đó, đủ để thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường chuyển giao công nghệ. Điều này đã được chứng minh trong một số nghiên cứu về quan hệ giữa sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bằng sáng chế, với tốc độ phát triển. Chẳng hạn như một nghiên cứu đáng chú ý của Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu năm 2002 của Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra rằng “dù cho các quốc gia có mức thu nhập khác nhau nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn liền với phát triển thương mại và đầu tư nước ngoài, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn”. Một ấn bản khác năm 2002 của Ngân hàng Thế giới mang tựa đề “Cẩm nang Phát triển, Thương mại và WTO” đã chú dẫn một số nghiên cứu tuy chưa đưa ra được những kết quả rõ ràng nhưng cũng đã chỉ ra rằng việc bảo hộ mạnh mẽ bằng sáng chế có thể: 1) gia tăng thương mại toàn cầu; 2) thu hút thêm được đầu tư trực tiếp nước ngoài; 3) tăng cường việc mua bán công nghệ và do đó có thể tăng năng lực sản xuất trong nước; 4) góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng.

Ngày nay, Giooc-đa-ni có thể là một ví dụ điển hình cho những kết quả nghiên cứu trên. Tại quốc gia này, việc gia tăng bảo hộ bằng sáng chế đã đem lại những lợi ích kinh tế hữu hình (xem bài “Giooc-đa-ni hưởng lợi từ việc cải cách việc bảo hộ sở hữu trí tuệ”). Viện Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (IIPI) đã công bố một báo cáo đầy đủ vào tháng 8 năm 2004 nghiên cứu việc thành lập ngành công nghiệp công nghệ dược và thuốc chữa bệnh từ cây cỏ có khả năng cạnh tranh toàn cầu của Giooc-đa-ni. Báo cáo phát hiện ra rằng “Kinh tế Giooc-đa-ni đã được hưởng lợi lớn từ việc bảo hộ sở hữu trí tuệ tốt hơn trong thời gian gần đây” theo như công bố của IIPI. Báo cáo nhấn mạnh hệ thống bảo vệ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là bảo vệ bằng sáng chế, “đã tăng cường tập trung vào những phát minh dựa trên nghiên cứu cho các công ty dược phẩm của Giooc-đa-ni”.

Điều này đã được thể hiện trong đóng góp tăng đột biến của ngành chăm sóc y tế, từ 2,8% năm 1997 lên tới 3,5% năm 2001, vào GDP của Giooc-đa-ni. Kể từ năm 1997 số lượng việc làm trong các lĩnh vực y tế tăng thêm 52%. Báo cáo cũng cho thấy “ngành dược phẩm là ngành lớn thứ hai ở Giooc-đa-ni và từ năm 1999 tới 2002 lượng thuốc xuất khẩu của các công ty Giooc-đa-ni tăng thêm 30%”.

1.2.3 Nhãn hiệu và bảo vệ người tiêu dùng

Nhãn hiệu là một từ, cụm từ, ký hiệu, hay kiểu dáng, hoặc sự kết hợp các từ, cụm từ, ký hiệu hay kiểu dáng nhằm xác định và phân biệt nguồn gốc của hàng hóa do một người sản xuất với hàng hóa do những người khác sản xuất. Vì vậy, nhãn hiệu xác định được người sản xuất ra một mặt hàng và người ta dùng nhãn hiệu để biết được chất lượng của hàng hóa. Nhãn hiệu cũng giúp khách hàng biết địa điểm cung cấp sự trợ giúp khi hàng hóa không đạt chất lượng. Một số loại hình nhãn hiệu đã tồn tại tới vài ngàn năm nay. Du khách tới thăm Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc vẫn có thể thấy dấu hiệu của người sản xuất để lại trên một số những viên gạch. Dấu hiệu này cho phép các hoàng đế thời đó yên tâm về mặt chất lượng và trong trường hợp cần thiết thì có thể quy kết được trách nhiệm.

Việc đảm bảo chất lượng và quy kết được trách nhiệm đã hoàn toàn bị xóa sổ khi những kẻ làm hàng giả dùng nhãn hiệu và đánh lừa khách hàng bằng những sản phẩm do bọn chúng sản xuất. Khi nghĩ tới hàng giả, nhiều người có thể nghĩ ngay tới đồng hồ Rolex giả, bật lửa Zippo giả hay túi xách Louis Vuitton giả. Việc làm giả những sản phẩm này đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho các công ty sản xuất hàng xịn và khiến cho chính phủ thất thu thuế. Nhưng việc làm giả nhãn hiệu còn gây ra một hậu quả nghiêm trọng khác, đó là làm ảnh hưởng tới sức khỏe và sự an toàn của cộng đồng.

Hoa Kỳ cũng không thể tránh khỏi nạn làm hàng giả. Trong buổi tường trình trước Ủy ban Pháp luật Thượng viện Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 2004, Trợ lý Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ là Christopher Wray đã đưa ra những ví dụ về việc vi phạm nhãn hiệu. Ông nhấn mạnh rằng vào đầu năm 2004, một công dân bang Alabama đã nhận tội 28 lần làm hàng giả và bị buộc tội làm giả nhãn hiệu thuốc diệt côn trùng. Anh ta đã bán thuốc diệt côn trùng giả với nhãn hiệu giả của loại thuốc diệt muỗi và gián tiếp bán thuốc diệt virus West Nile cho các thành phố và doanh nghiệp tư nhân ở một số bang của Hoa Kỳ. Bị cáo đã không đưa ra được tên của thuốc diệt côn trùng, nhà sản xuất và các thành phần hoạt chất. Trong một vụ án khác năm 2002, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã kết tội một công dân bang California theo cáo trạng của liên bang vì liên quan đến âm mưu bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh. Sau khi bán sữa bột cho trẻ sơ sinh giả cho hàng ngàn trẻ em, những nạn nhân dễ bị tổn thương nhất, bị cáo đã trốn sang Canada năm 1995. Hắn đã bị bắt ở Canada năm 2001 và năm 2002 được đưa về xét xử tại Hoa Kỳ.

Nạn làm hàng giả cũng gây ra nguy cơ đe dọa nghiêm trọng tới an toàn và sức khỏe cộng đồng ở những quốc gia đang phát triển. Một bi kịch khủng khiếp hơn đã diễn ra ở Trung Quốc. Vào tháng 5 năm 2004, hãng tin AP đưa tin từ Bắc Kinh cho biết 47 tên đã bị kết tội bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh và chính quyền cho biết hành động này là nguyên nhân gây ra cái chết của hàng chục trẻ em. Theo bài báo, cuộc khám xét sau đó của cảnh sát đã phát hiện ra hàng ngàn bao đựng sữa bột giả với nhãn mác của 45 loại sữa khác nhau.

Thuốc tân dược giả cũng đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng gây chết người ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển. Không ai biết rõ về điều này hơn Dorothy Akunyili, Giám đốc Cơ quan Quốc gia Kiểm tra và Quản lý Thuốc và Thực phẩm của Nigeria. Câu chuyện của bà được kể chi tiết trên trang nhất tờ Nhật báo Phố Wall vào tháng 5 năm 2004 cứ như thể một câu chuyện xảy ra trong tiểu thuyết. Nhưng đáng tiếc đó lại là chuyện có thật chứ không phải là chuyện giả tưởng. Việc điều tra và chống lại nạn làm thuốc tân dược giả đã khiến bà bị mưu sát và cơ quan bà bị phóng hỏa. Nhưng bà vẫn anh dũng tiếp tục công việc của mình với niềm thôi thúc cá nhân do em gái bà đã chết vì bị tiêm thuốc insulin giả. Cũng giống như nhiều người khác, bà hiểu rõ nguy cơ và hiểm họa của nạn hàng giả.

1.2.4 Sở hữu trí tuệ và xã hội

Có một điểm chung xuyên suốt các vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế và nhãn hiệu vừa được đề cập ở trên. Việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa, tăng cường sức sáng tạo và phát triển kinh tế, bảo vệ sự an toàn và sức khỏe cộng đồng là những mục tiêu chung. Tất cả chúng ta đều muốn sống trong những xã hội tôn vinh và thúc đẩy những giá trị này. Trong khi bàn luận về sở hữu trí tuệ ngày nay, chúng ta cần nhớ tới vai trò của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Hoa Kỳ hết sức tin tưởng vào giá trị của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vì những lý do đã nêu trên và nhiều lý do khác và Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác với các quốc gia khác nhằm tăng cường việc bảo hộ sở hữu trí tuệ.

II. Bảo hộ sỡ hữu trí tuệ là gì? Vì sao phải bảo hộ SHTT?

2.1 Khái niệm

Từ góc độ vật chất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm đảm bảo cho người sáng tạo có thể khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bù đắp lại công lao sáng tạo.

Bảo hộ sở hữu trí tuệ là việc xác lập và bảo vệ quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với tài sản trí tuệ của mình. Cá nhân hay tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua cơ quan có thẩm quyền thực hiện thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ về đối với Bản quyền tác giả, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết thương mại, tên thương mại...

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo cho người sáng tạo có thể khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bù đắp lại công lao sáng tạo.
Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn với thời hạn bảo hộ. Ví dụ tác phẩm điện ảnh được bảo hộ 50 năm, thiết kế bố trí mạch tích hợp có thời hạn bảo hộ là 10 năm.

Hết thời hạn này, các sáng tạo trở thành tài sản chung của nhân loại và tất cả mọi người có thể khai thác, sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả thù lao cho người sáng tạo.

Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ dưới dạng sở hữu trí tuệ độc quyền, nhằm khuyến khích năng lực sáng tạo của các chủ thể, là động lực thúc đẩy văn hóa, kinh tế, xã hội, khoa học-công nghệ của một quốc gia phát triển. Nhưng việc bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ là có chọn lọc, phải đảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hôi, công dân. Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ có thời hạn và muốn được bảo hộ phải đáp ứng các yêu cầu luật định.

2.2 Vì sao phải bảo hộ sở hữu trí tuệ?

Sở hữu trí tuệ thực chất là gì? Tại sao phải coi nó là yếu tố sống còn của 1 doanh nghiệp, thậm chí với cả những doanh nghiệp có quy mô khiêm tốn nhất?

Sở hữu trí tuệ (SHTT) không đơn giản chỉ là những tấm bằng sáng chế bạn đang nắm giữ trong tay. Tùy từng trường hợp, nó còn có thể là thương hiệu, hình ảnh, âm điệu, phần mềm, các tác phẩm hội họa, nói tóm lại là bất cứ sản phẩm gì do lao động trí óc tạo ra. Khi xã hội phát triển, nhu cầu vật chất thiết yếu được đáp ứng đầy đủ thì những giá trị tinh thần này càng được coi trọng. Nếu người nắm giữ sản phẩm vô hình này không biết cách bảo vệ, rất dễ dàng chúng sẽ “trôi tuột” vào tay kẻ khác.

Chính vì thế, vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế, đăng kí thương hiệu luôn được đặt ra như một trong những điều kiện tiên quyết đối với sự thành bại của doanh nghiệp. Dù đó chỉ là cái tên hay một đặc trưng nào đó của sản phẩm/ dịch vụ, thì giải quyết tốt vấn đề SHTT sẽ giúp doanh nghiệp duy trì bước phát triển bền vững cũng như đón đầu đối thủ trong các chiến lược cạnh tranh.

Xuất phát điểm đầu tiên của SHTT phải nằm trong chính kế hoạch kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp. Trong đó, cần chú trọng những điểm sau:

  • Bằng sáng chế: Đó là những văn bằng hợp pháp miêu tả chi tiết những phát minh kĩ thuật, cho phép người sở hữu, trong thời gian hiệu lực nhất định, khai thác, hưởng lợi từ phát minh đó, đồng thời có quyền ngăn cấm bất kì ai khác sử dụng chúng.
  • Bản quyền: là sự bảo vệ hợp pháp đối với 1 sản phẩm mang tính sáng tạo, ví dụ: tác phẩm hội họa, âm nhạc, văn chương, các bộ phim, chương trình phát sóng, các bản thu âm, phần mềm máy tính... Khác với bằng sánh chế, bản quyền tự động phát sinh ngay từ khi tác phẩm được tạo lập và xuất bản. Bản quyền có thể bảo vệ quyền lợi của người sở hữu khi không có bằng sáng chế.
  • Nhãn hiệu được đăng ký: là cơ sở pháp lý để xây dựng và phát triển thương hiệu, là công cụ để tạo nhận thức và gây ấn tượng về sản phẩm/ dịch vụ trong tâm trí người tiêu dùng.
  • Một trong những lợi ích thiết thực dễ thấy nhất từ SHTT là đặc quyền sử dụng phát minh, sáng chế, thương hiệu. Điều này tạo ra vị thế cạnh tranh rõ rệt đối với các đối thủ trên thương trường.

Không những thế, bản chất của những sản phẩm mang tính sáng tạo là khả năng tạo ra lợi nhuận cao. Do đó, quản lý tốt vấn đề SHTT có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng doanh thu, lợi nhuận cũng như các chỉ số tăng trưởng hàng năm của doanh nghiệp.

Đối với những doanh nghiệp đang tìm cách tăng vốn, quản lý SHTT có thể là 1 công cụ hữu ích, bởi nó làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư cũng như các nhà phân tích. Ví dụ, 1 doanh nghiệp nắm trong tay càng nhiều bằng sáng chế thì càng được định giá cao, cả trước và sau khi phát hành cổ phiếu.

Những lý do trên đây không chỉ đơn thuần giải thích cho sự cần thiết và tầm quan trọng của quản lý SHTT trong từng doanh nghiệp, mà hơn hết, nó còn đặt ra một câu hỏi vô cùng thiết thực: vậy các đối thủ cạnh tranh khác đã có chiến lược quản lý SHTT hay chưa, họ đã nắm trong tay những bảo bối SHTT nào?

Đó là câu hỏi thực sự cần lời giải đáp.

2.3 Tác động của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các nước đang phát triển

2.3.1. Lợi ích của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Ngăn chặn được sự sản xuất và tiêu thụ hàng giả, hàng nhái. Hàng giả, hàng nhái đều là những sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và gây thiệt hại cho nhà sản xuất chân chính cả về doanh thu và uy tín. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ giúp loại bỏ các sản phẩm này ra khỏi thị trường, đảm bảo quyền lợi của cả nhà sản xuất chân chính và người tiêu dùng.

Khuyến khích sáng tạo tại chỗ và chuyển giao công nghệ. Nhiều nhà phát minh trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài thường nản lòng khi không có chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đủ mạnh ở nước sở tại, họ không có động lực để sáng tạo và cũng không muốn đem công nghệ mới hoặc nghiên cứu phát triển công nghệ ở nước sở tại vì sợ bị mất bí mật công nghệ.

2.3.2 Mặt trái của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Phần lớn số lượng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ hiện nay do các nước phát triển nắm giữ. Ðiều này tạo nên lợi thế rất lớn cho sản phẩm của các nước này so với các nước đang phát triển. Trong một số lĩnh vực, ví dụ dược phẩm, sự độc quyền khai thác bằng sáng chế đã đẩy giá sản phẩm lên rất cao, đem lại lợi nhuận khổng lồ cho hãng sản xuất. Các nước đang phát triển, vốn đã không có công nghệ, lại phải chịu mua các sản phẩm với giá cao này nên thiệt thòi càng lớn.

Một ví dụ khác là phần mềm máy tính. Giá một chương trình phần mềm thường từ vài trăm đến hàng ngàn đô-la Mỹ, vượt gấp nhiều lần giá của chiếc máy tính. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt chế độ bản quyền phần mềm thì rất có thể nhiều nước đang phát triển không có được trình độ công nghệ thông tin hiện nay.

Nói vậy không có nghĩa là chúng ta khuyến khích việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ mà điều chính yếu là chúng ta cần phối hợp với các nước đang phát triển khác đấu tranh cho một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ công bằng và hợp lý hơn.

II. Vai trò của bảo hộ sở hữu trí tuệ:

3.1. Đối với hoạt động thương mại :

Những hạn chế trong bảo hộ quyền SHTT có thể bóp méo nền thương mại của một quốc gia. Một quốc gia có hệ thống bảo hộ yếu (về bản quyền) sẽ tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp, cụ thể như sao chép bất hợp pháp băng đĩa, phần mềm máy tính, v.v... thay vì nhập khẩu các sản phẩm này với giá cao. Bên cạnh đó, việc kiểm soát hoạt động buôn bán qua biên giới một cách lỏng lẻo sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu các mặt hàng vi phạm và hàng giả. Nhà kinh doanh cũng có thể thay đổi phương án kinh doanh của mình do những hạn chế trong việc bảo hộ quyền SHTT. Ban đầu nhà kinh doanh có ý định triển khai phương án kinh doanh, nhưng nếu nhận ra những khiếm khuyết trong việc bảo hộ bí mật thương mại, có thể họ sẽ từ bỏ ý định này. Như vậy, hệ thống bảo hộ quyền SHTT yếu là một trong những lý do chính dẫn đến các hoạt động kinh doanh phi pháp và mang tính "chụp giật". Trong trường hợp ngược lại, một hệ thống bảo hộ quyền SHTT mạnh sẽ tạo điều kiện cho việc chuyên nghiệp hóa hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro của quá trình kinh doanh và đó chính là tiền đề thúc đẩy sự phát triển của nền thương mại.

3.2. Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ:

Một công ty đa quốc gia có nhiều lựa chọn khác nhau để xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài. Họ có thể đầu tư trực tiếp, hoặc liên doanh với doanh nghiệp địa phương thông qua góp vốn, công nghệ, nhân lực hay là chuyển giao công nghệ. Việc lựa chọn hình thức đầu tư và kinh doanh của nhà đầu tư phụ thuộc vào thị trường và hệ thống luật pháp của nước sở tại, trong đó hệ thống bảo hộ SHTT đóng một vai trò quan trọng. Nét đặc trưng của các công ty đa quốc gia là chúng thường sở hữu những khoản tài sản vô hình rất lớn, trong đó công nghệ là một trong những loại tài sản vô hình quan trọng nhất. Xét trên góc độ quyền SHTT, đó là các nhãn hiệu nổi tiếng, các sáng chế đã tạo nên danh tiếng của công ty và là một phần không thể mất đi của công ty. Các công ty đa quốc gia có xu hướng xây dựng các công ty 100% vốn của mình tại các nước có hệ thống bảo hộ quyền SHTT mạnh, đối với nhà đầu tư, ưu điểm của hình thức này là có thể bảo hộ tốt bí mật công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa, còn nhược điểm của nó là tốn kém, không tận dụng được hết các ưu thế mà địa phương đem lại và quốc gia được đầu tư không học hỏi được kỹ năng quản lý cũng như cách thức sản xuất.

Quyền SHTT còn ảnh hưởng đến kênh chuyển giao công nghệ. Công nghệ ở đây được phân loại thành loại dễ bắt chước và loại khó bắt chước. Loại công nghệ dễ bắt chước thường gồm có công nghệ sao chép băng đĩa nhạc, sản xuất đồ chơi, v.v... Có nhiều lý do dẫn đến hiện tượng bắt chước công nghệ, chẳng hạn, đối với các công ty nhỏ, việc bắt chước công nghệ nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh, còn đối với các công ty có nhiều đối thủ cạnh tranh, việc nghiên cứu công nghệ của đối phương sẽ giúp họ khắc phục những nhược điểm của công nghệ hiện đang sử dụng và phát minh ra những công nghệ mới. Loại công nghệ khó bắt chước thường được sử dụng trong lĩnh vực dược phẩm và phần mềm máy tính. Việc bắt chước công nghệ sẽ giúp các chuyên gia trong ngành giảm bớt chi phí trong việc phát hiện và tạo ra những loại thuốc mới và nhanh chóng tung ra thị trường các sản phẩm cạnh tranh tương tự, thậm chí có thể là những sản phẩm ưu việt hơn. Nhìn chung, các sản phẩm máy móc, thiết bị y tế thường khó bắt chước. Tuy nhiên, dù tinh vi và phức tạp đến mức nào, tất cả các sản phẩm đều hàm chứa rủi ro bị lộ bí mật công nghệ, hay bị bắt chước. Chính vì vậy, các nhà đầu tư phải cân nhắc khá nhiều vấn đề khi tiến hành chuyển giao công nghệ. Một hệ thống bảo hộ SHTT mạnh có thể hạn chế việc sao chép, làm giả sản phẩm và tăng chi phí bắt chước. Bất kỳ quốc gia nào xây dựng được một hệ thống bảo hộ SHTT mạnh sẽ có điều kiện tiếp nhận các công nghệ tiên tiến phục vụ cho việc phát triển đất nước. Ngược lại, các quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền SHTT yếu sẽ chỉ có cơ hội tiếp nhận các công nghệ đã phát minh từ lâu, thậm chí đã lỗi thời và mất dần giá trị khai thác.

3.3. Vai trò của hệ thống SHTT đối với phát triển kinh tế:

  • Bảo hộ SHTTnhững người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó.

Nhìn vào lịch sử phát triển của các quốc gia, nhất là các nước công nghiệp phát triển, sở hữu trí tuệ được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của đất nước. Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời và được bảo hộ, chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ có được tỷ lệ tiền bản quyền cao hơn và có giá trị thị trường cao hơn nhiều lần, người mua quyền sở hữu trí tuệ và người xin cấp giấy phép sử dụng cũng vui lòng trả nhiều tiền hơn do có sự bảo hộ. Việc bảo hộ này nhằm giảm rủi ro trong các giao dịch thương mại về quyền sở hữu trí tuệ, nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc cung cấp các hiệp định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng của các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ đó bằng việc thương mại hoá chúng, chính việc thương mại hoá các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủ thể sở hữu cũng như những người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích kinh tế. Ví như với việc mỗi năm có đến hàng trăm các phát minh, sáng chế mới ra đời, NOKIA không chỉ thu được lợi nhuận khổng lồ từ những sản phẩm trí tuệ mới này được cung cấp bởi chính hãng mà còn thu được nhiều tỷ USD từ việc bán bản quyền. Theo tài liệu của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới thì tổng thu nhập từ bản quyền về sáng chế trên toàn thế giới tăng từ 10 tỷ USD năm 1990 lên 110 tỷ USD năm 2000; riêng hãng máy tính IBM (Mỹ) năm 2000 đã thu được 1,7 tỷ USD.

Cụ thể có các công ty Việt Nam điển hình như, Công ty Phân lân Văn Điển thành công với hàng loạt các sáng chế và giải pháp hữu ích, như: Lò cao sản xuất phân lân nung chảy (1 BĐQ sáng chế, 2 BĐQ giải pháp hữu ích); Thiết bị và phương pháp sàng rửa phân loại nguyên liệu (1 BĐQ GPHI), phối liệu đóng bánh quặng phốt phát (1 BĐQ GPHI), phối liệu để sản xuất phân lân nung chảy… Hiệu quả đạt được là Công ty đã sử dụng 100% nguyên vật liệu trong nước, giảm tiêu hao nhiên liệu 70%, giảm tiêu hao điện 81%, làm lợi 253 tỷ đồng (1992-2002) v.v….; Giống lúa mới TH3-3 của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã chuyển nhượng quyền với giá 10 tỷ đồng (6/2008); Cơ sở Duy Lợi cũng thành công với kiểu dáng công nghiệp Võng xếp được bảo hộ ở Việt Nam và nước ngoài, là doanh nghiệp thành công trong nước và nước ngoài, đã và đang phát triển mạnh mẽ và doanh thu tăng qua từng năm, chống vi phạm quyền SHTT thành công, chống cạnh tranh bất chính ở Nhật Bản và Hoa Kỳ. Có thể nói Duy Lợi là một trong những doanh nghiệp đã đi lên từ công cụ sở hữu trí tuệ.

  • Bảo hộ SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc gia

Đỗi với mỗi quốc gia, doanh nghiệp, năng lực sở hữu trí tuệ là một trong những năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Quốc gia, doanh nghiệp nào có được càng nhiều quyền sở hữu trí tuệ thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao.

Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của sở hữu trí tuệ. Cách tốt nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về sở hữu trí tuệ nhằm xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ có hiệu quả. Điều đó làm cho hoạt động sở hữu trí tuệ xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tới chuẩn mực chung của thế giới.

  • Bảo hộ SHTT là phương tiện đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia và của từng doanh nghiệp

Bất kỳ tài sản hữu hình nào đều bị giới hạn bởi thời gian, không gian, khối lượng và giá trị của nó. Các tài sản hữu hình này không chỉ bị thu hẹp về quy mô, số lượng mà còn có khả năng bị thay thế bởi các sản phẩm mới do tri thức tạo ra. Do đó, sở hữu các tài sản hữu hình là sở hữu cái có giới hạn, còn sở hữu tri thức, trí tuệ của nhân loại là sở hữu cái vô hạn, vì vậy sẽ là vô cùng bền vững nếu chúng ta biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả – có thể nói sở hữu trí tuệ là sở hữu một thứ tài sản đặc biệt, khi sử dụng không những không mất đi mà còn có khả năng kiến tạo những sản phẩm trí tuệ cao hơn, là những tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững đối với những chủ thể sở hữu và xã hội.

Thực tiễn cho thấy, lợi nhuận lớn thường đổ dồn về những doanh nghiệp nào biết quan tâm đầu tư và khai thác sản phẩm trí tuệ của mình hay những quốc gia sở hữu nhiều phát minh, sáng chế của nhân loại. Vì lẽ đó mà hàng năm, hãng sản xuất danh tiếng như Nokia đầu tư hàng tỷ USD và huy động nhiều ngàn lao động trí tuệ trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, mỗi năm hãng này đệ trình đăng ký bảo hộ sáng kiến và giải pháp mới cho 500 phát minh các loại.

  • Tuân thủ hệ thống quản lý SHTT là cách thức để các nước đang phát triển tiếp cận bền vững hơn với các hoạt động đầu tưvà hội nhập hiệu quả

Việc tạo dựng và củng cố giá trị của mọi đối tượng sở hữu trí tuệ là một quá trình đầu tư tốn kém về vật chất và trí tuệ. Do vậy, việc sao chép, mô phỏng, thậm chí đánh cắp nguyên vẹn các thành quả sáng tạo kỹ thuật – kinh doanh của đối thủ cạnh tranh là biện pháp hấp dẫn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận và chiến thắng. Nguy cơ chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ là nguy cơ thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh tế công nghiệp hoá. Bởi vậy, việc ngăn chặn nguy cơ này là vấn đề ám ảnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, họ sẽ chỉ chấp nhận chuyển giao công nghệ và thực hiện các biện pháp đầu tư, nếu họ nhận thấy có đủ cơ hội khai thác an toàn, hiệu quả công nghệ ở quốc gia dự định đầu tư.

Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu cho rằng vì lạc hậu về kỹ thuật và công nghệ mà không cần phải có một sự bảo hộ công nghệ nào ở các nước đang phát triển. Cần thấy rằng, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng lo sợ rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc thiếu kiểm soát đối với công nghệ được chuyển giao và như vậy công nghệ chuyển giao này sẽ dễ trở thành mục tiêu bị vi phạm bản quyền. Vì lẽ đó, xác lập được một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hiệu quả và việc tuân thủ hệ thống quản lý bảo hộ sở hữu trí tuệ một cách nghiêm túc sẽ là một điều kiện tiên quyết tác động đến quyết định đầu tư và chuyển giao của các công ty nước ngoài.

  • Hệ thống bảo hộ SHTT hiệu quả xóa bỏ được nguy cơ tụt hậu

Kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản cho thấy, một quốc gia hoàn toàn có thể phát triển mạnh mẽ mà không nhất thiết phải có nguồn lực vật chất dồi dào, mà vấn đề là nhận thức được giá trị thực sự của tài sản trí tuệ và việc bảo hộ các tài sản trí tuệ đó. Cựu Thủ tướng Nhật Bản Tanzan Ishibashi đã từng nói: “ Tôi tin chắc rằng, đây là bí quyết phát triển công nghiệp của chúng tôi từ thời Meiji. Chỉ trong một nước đã nhận ra giá trị thực sự của hệ thống bảo hộ sáng chế và quyết tâm dùng mọi sức lực của nó để xây dựng hệ thống đó, người ta mới có thể hy vọng công nghiệp phát triển ”.

Một khi cơ sở hạ tầng và khả năng kỹ thuật cho việc cải tiến công nghệ đã được thiết lập ở một nước, nhất là ở các nước đang phát triển, hệ thống bảo hộ sáng chế sẽ thành một yếu tố thúc đẩy sự nghiệp cải tiến kỹ thuật. Bởi vậy, câu hỏi đặt ra cho các nước đang phát triển không phải là có thiết lập hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hay không, mà phải là thiết lập như thế nào và vào lúc nào trong quá trình phát triển kinh tế, kỹ thuật của đất nước sẽ là phù hợp cho việc áp dụng một hệ thống bảo hộ toàn diện và hiệu quả.

Tóm lại, việc đánh giá và phân tích vai trò của quyền SHTT đối với phát triển kinh tế của một quốc gia là công việc tương đối phức tạp và cần phải được xem xét từ nhiều góc độ. Việc bảo hộ quyền SHTT tốt sẽ khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa và tạo uy tín cho sản phẩm. Ngoài ra, việc bảo hộ tốt sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm cao, hạn chế các vi phạm như tình trạng khai thác công nghệ không được phép của người sở hữu bằng độc quyền, hay sản xuất hàng giả, hàng nhái và các vi phạm khác. Xét về lâu dài, hệ thống SHTT mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành mạnh, đóng một vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý là, xét trên một khía cạnh nào đó, hệ thống bảo hộ SHTT yếu sẽ cho phép một quốc gia phát triển công nghệ với chi phí thấp. Đương nhiên, trong bối cảnh mới khi mà xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và chuyên nghiệp đang ngày càng trở thành nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia và toàn thế giới, chúng ta không thể và không muốn khuyến khích và áp dụng cách tiếp cận này. Thực tế chỉ ra rằng, hiện nay, đa phần các nước nghèo vẫn coi đây là giải pháp để hiện đại hóa công nghệ của mình và qua đó, phát triển nền kinh tế của mình. Song phải khẳng định rằng, một hệ thống SHTT mạnh luôn là cái đích cuối cùng trên con đường phát triển kinh tế của một nước.

CHƯƠNG 2:  CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM

I. Quá trình hình thành các quy định về quyền SHTT và Luật SHTT của Việt Nam:

Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do bị thựcdân Pháp đô hộ. Vì vậy, luật về sở hữu trí tuệ của chúng ta ra đời muộn hơn ở những nước khác.

-     Năm 1957, Miền Nam mới ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành "Thể lệ về thương phẩm và thương hiệu". Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao.

-     Năm 1976, Việt Nam tham gia vào Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO). Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HDBT ban hành "Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hoá." Đây là văn bản đầu tiên chính thức nhắc đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp.

-     Hàng loạt các pháp lệnh, nghị định, công ước…. và văn bản liên quan đến sở hữu trí tuệ đã ra đời từ năm 1982 - 2005, tạo tiền đề phát triển cho công cuộc đổi mới như: Nhãn hiệu hàng hoá ngày 14/2/1982; Điều lệ Kiểu dáng Công nghiệp ngày 13/05/1988;  Pháp lệnh Chuyển giao Công nghệ từ Nước ngoài vào Việt Nam ngày 5/12/1988; Nghị Định 49/HĐBT ngày 4/03/1991 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Chuyển giao Công nghệ từ Nước ngoài vào Việt Nam; BLDS 1995 và Nghị định 63/CP về sở hữu công nghiệp (ngày 24/10/1996) và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Công ước Paris; Công ước Washington và …..

-     Năm 2005, tại phiên họp Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 (từ ngày 18/10/2005 đến 29/11/2005), Quốc Hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ- Luật số 50/2005/QH11. Luật này có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2006, bao gồm 6 phần 18 chương và 222 điều.

-     Năm 2009, tại kỳ họp Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ 5, Quốc đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 – Luật số 36/2009/QH12, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Phần lớn nội dung tập trung điều chỉnh các quyền về tác giả, tác phẩm, kiểu dáng công nghiệp....

II. Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005

Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ, cấu trúc Luật SHTT được chia thành 6 phần. Trừ Phần VI (Điều khoản thi hành), các phần còn lại có các nội dung sau đây:

  • Phần I (những qui định chung):  qui định phạm vi, đối tượng áp dụng, đối tượng điều chỉnh, các khái niệm được sử dụng trong Luật SHTT, nguyên tắc áp dụng luật, căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với từng đối tượng. Đây là những qui định chứa đựng những qui phạm mang tính nguyên tắc.
  • Phần II (quyền tác giả và quyền liên quan): qui định điều kiện bảo hộ, nội dung quyền và giới hạn quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, xác định các chủ thể của quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan; qui định về chuyển giao quyền tác giả, đăng ký quyền tác giả và tổ chức đại diện quyền tác giả.
  • Phần III (quyền sở hữu công nghiệp) : Phần này qui định điều kiện bảo hộ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp; xác định chủ sở hữu công nghiệp, nội dung và giới hạn của các quyền sở hữu công nghiệp; qui định việc chuyển nhượng quyền theo thoả thuận cũng như li-xăng bắt buộc; và qui định về đại diện sở hữu công nghiệp.
  • Phần IV (giống cây trồng): qui định điều kiện bảo hộ, qui trình nộp đơn xác lập quyền đối với giống cây trồng, nội dung và giới hạn các quyền đối với giống cây trồng, chuyển giao giống cây trồng. Mặc dù Việt Nam đã có Pháp lệnh giống cây trồng từ năm 2001, đây vẫn là các qui định mới; kinh nghiệm của Việt Nam trong lĩnh vực này còn hạn chế.
  • Phần V (bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ): đi vào vấn đề màViệt Nam còn bị các nước coi là yếu kém: thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Tuân thủ các cam kết về thực thi quyền sở hữu trí tuệ qui định tại Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và Thỏa ước TRIPS, Phần V gồm có các qui định chung về thực thi, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục dân sự, hành chính, hình sự, trong đó nhấn mạnh đến các biện pháp khẩn cẩp tạm thời cũng như cách thức xác định mức bồi thường thiệt hại.

Một số nội dung cơ bản của luật SHTT năm 2005:

  • Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó.

  • Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

  • Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống.

  • Trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp.

Bộ Văn hoá - Thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.

      Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.

      Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.

  • Phân tích một số đối tượng sở hữu trí tuệ trong quyền sở hữu công nghiệp

1. Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

1.1. Điều kiện chung đối với  sáng chế được bảo hộ 

1) Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Có tính mới

+ Có trình độ sáng tạo

+ Có khả năng áp dụng công nghiệp.

2)  Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Có tính mới

+ Có khả năng áp dụng công nghiệp.

1.2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế :  Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:

1) Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;

2) Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;

3) Cách thức thể hiện thông tin;

4) Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;

5) Giống thực vật, giống động vật;

6) Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;

7) Pương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

1.3. Tính mới của sáng chế

1) Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

2) Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

3) Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

+ Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữu trí tuệ.

+ Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật Luật sở hữu trí tuệ. công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

+ Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữu trí tuệ. trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

1.4. Trình độ sáng tạo của sáng chế

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

1.5. Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

 Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

2. Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp

2.1. Điều kiện chung đối với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ

Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1) Có tính mới;

2) Có tính sáng tạo;

3) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

2.2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp

Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:

1) Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có;

2) Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;

3) Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm.

2.3. Tính mới của kiểu dáng công nghiệp   

1) Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên.

2) Hai kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó.

3) Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó.

4) Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

a) Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này

b) Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

c) Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

2.4. Tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng.

2.5. Khả năng áp dụng công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

3. Điều kiện bảo hộ đối với thiết kế bố trí

3.1. Điều kiện chung đối với thiết kế bố trí được bảo hộ

Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1) Có tính nguyên gốc;

2) Có tính mới thương mại.

3.2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí

Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí:

1) Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn;

2) Thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn.

3.3. Tính nguyên gốc của thiết kế bố trí

1) Thiết kế bố trí được coi là có tính nguyên gốc nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả;

b) Chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó.

2) Thiết kế bố trí là sự kết hợp các phần tử, các mối liên kết thông thường chỉ được coi là có tính nguyên gốc nếu toàn bộ sự kết hợp đó có tính nguyên gốc

3.4. Tính mới thương mại của thiết kế bố trí

1) Thiết kế bố trí được coi là có tính mới thương mại nếu chưa được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký.

2) Thiết kế bố trí không bị coi là mất tính mới thương mại nếu đơn đăng ký thiết kế bố trí được nộp trong thời hạn hai năm kể từ ngày thiết kế bố trí đó đã được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người được người đó cho phép khai thác nhằm mục đích thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới.

3) Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại quy định tại khoản 2 Điều này là hành vi phân phối công khai nhằm mục đích thương mại đối với mạch tích hợp bán dẫn được sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hoá chứa mạch tích hợp bán dẫn đó.

4. Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu  

4.1. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2) Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.

4.2. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:

1) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

2) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

3) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài

4) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận

5) Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.

4.3. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

1) Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2) Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;

b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;

c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;

d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;

i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.

4.4. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng

Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:

1) Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;

2) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;

3) Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

4) Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

5) Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

6) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

7) Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;

8) Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.

5. Điều kiện bảo hộ đối với tên thương mại

5.1. Điều kiện chung đối với tên thương mại được bảo hộ

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

5.2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại

Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại.

5.3. Khả năng phân biệt của tên thương mại

Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1) Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

2) Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

3) Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.

6. Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý

6.1. Điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ

Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;

2) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.

6.2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý

Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý:

1) Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam;

2) Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng;

3) Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;

4) Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.

6.3. Danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý

1) Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó.

2) Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp.

6.4. Điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý

1) Các điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý là những yếu tố tự nhiên, yếu tố về con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.

2) Yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thuỷ văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác.

3) Yếu tố về con người bao gồm kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương.

6.5. Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý

Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ.

7. Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh

7.1. Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ

Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1) Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

2) Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

3) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

7.2.  Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh

Các thông tin bí mật sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh:

1) Bí mật về nhân thân;

2) Bí mật về quản lý nhà nước;

3) Bí mật về quốc phòng, an ninh;

4) Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh.

8. Quy đinh chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

8.1. Quyền tự bảo vệ

1) Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2) Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3) Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật sở hữu trí tuệ và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

8.2. Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1) Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.

2) Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

8.3. Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

2) Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.

3) Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

4) Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.

8.4. Giám định về sở hữu trí tuệ

1) Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

2) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý.

3) Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

4) Chính phủ quy định cụ thể hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.

III. Các công  ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt nam đã ký kết.

Việt nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO do vậy việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ mang ý nghĩa to lớn khi mà Quyền sở hữu trí tuệ không tách rời mà còn có quan hệ chặt chẽ với thương mại và phát triển kinh tế.

Tính đến nay Việt Nam tham gia rất nhiều công ước quốc tế Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam chẳng hạn như tham gia công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1949, tham gia Công ước Berne về bảo vệ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 2005, Công ước Geneva từ năm 2005…

3.1. Sơ lược các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ Việt Nam tham gia:

  • Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp:

Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp ("Công ước Paris") được ký kết ngày 20.3.1883 tại Paris. Công ước Paris quy định một số điều như sau:

-      Nguyên tắc đối xử quốc gia: Công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viên khác sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình.

-      Quyền ưu tiên: Công ước Paris quy định quyền ưu tiên đối với sáng chế, mẫu hữu ích, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Cụ thể là trên cơ sở một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một trong số các nước thành viên, trong một thời hạn nhất định (12 tháng đối với sáng chế và mẫu hữu ích, 6 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại bất cứ nước thành viên nào khác và các đơn nộp sau sẽ được coi như đã được nộp vào cùng ngày với ngày nộp đơn đầu tiên.

-      Một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà các nước thành viên phải tuân thủ;

-      Các quy định về hành chính phục vụ cho việc thi hành Công ước.

  • Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật:

 Công ước Berne (1886) về bảo hộ các quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký kết lần đầu tiên vào ngày 9/9/1886 tại Berne, Thuỵ Sỹ.

Việt Nam tham gia Công ước Berne, trở thành quốc gia thứ 156 tham gia Công ước và Công ước này có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam từ ngày 26/10/2004. Công ước Berne quy định một số nguyên tắc:

-      Nguyên tắc đối xử quốc gia: Theo quy định của Công ước Berne thì những tác phẩm (văn học, nghệ thuật) được bảo hộ theo Công ước Berne thì tác giả của chúng được hưởng các quyền tương tự như công dân của nước đó hiện được hưởng theo quy định của luật pháp quốc gia sở tại.

-      Nguyên tắc bảo hộ tự động: Có nghĩa là, tại các quốc gia đã tham gia Công ước thì việc hưởng và thực hiện các quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật không phải làm bất kỳ thủ tục nào. Việc bảo hộ được thực hiện kể cả trong trường hợp tác phẩm không được bảo hộ ở quốc gia gốc.

-      Nguyên tắc bảo hộ độc lập: Luật pháp của quốc gia đã tham gia công ước sẽ quy định về mức độ và các thủ tục, phương thức bổ cứu nhằm thực hiện sự bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm được yêu cầu bảo hộ. Sự đãi ngộ đặc biệt hoặc sự hạn chế bảo hộ của một quốc gia là thành viên của công ước đối với những tác phẩm của tác giả là công dân của quốc gia không phải là thành viên sẽ không bắt buộc áp dụng tại các quốc gia thành viên khác.

 Theo quy định của công ước Bern thì đối tượng bảo hộ là các tác phẩm văn học và nghệ thuật.

  • Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989:

Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva. Theo Thoả ước này thì công dân của một nước thành viên của Thoả ước muốn bảo hộ một nhãn hiệu của mình tại nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãn hiệu của mình tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia có thể nộp đơn đăng ký quốc tế cho Văn phòng quốc tế của WIPO. Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và chỉ rõ những nước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình (nước được chỉ định). Nước được chỉ định có thời gian 1 năm để xem xét chấp nhận hoặc từ chối bảo hộ nhãn hiệu trên lãnh thổ của mình. Nếu sau 1 năm nước được chỉ định không có ý kiến thì nhãn hiệu coi như được chấp nhận bảo hộ ở nước đó.

Tính đến ngày 22.06.1999 Thoả ước Madrid có 51 thành viên. Việt Nam tham gia Thoả ước này từ ngày 08.03.1949. Tính đến nay đã có hơn 50000 nhãn hiệu của người nước ngoài được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam thông qua Thoả ước Madrid.

  • Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHTT thế giới (WIPO)

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, tiếng Anh viết tắt là WIPO, được thành lập trên cơ sở Công ước ký tại Stockholm này 14.07.1967 gọi là Công ước về việc thành lập "Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới". Đây là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Geneve, Thụy Sỹ và là một trong 16 Tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc. WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý sở hữu trí tuệ. Tính đến ngày 22.06.1999 số nước thành viên của WIPO là 171. Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02.07.1976.

  • Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970:

Hiệp ước hợp tác về sáng chế  (Patent Cooperation  Treaty – PCT ) được ký tại Washington vào tháng 6  năm 1970, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 1 năm 1978  và hoạt động từ ngày 01.06.1978 .   Việt Nam tham gia Hiệp ước từ ngày 10.03.1993.

Mục tiêu chủ yếu của PCT là đơn giản hoá thủ tục nộp đơn khi người nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế của mình ở nhiều nước trên thế giới và làm cho việc nộp đơn đó nên có lợi cả cho họ và cơ quan Patent quốc gia mà sáng chế đó được yêu cầu bảo hộ.

PCT quy định các bước về:

-      Nộp đơn quốc tế

-      Xử lý đơn tại cơ quan nhận đơn

-      Tra cứu quốc tế

-      Công bố đơn

-      Xét nghiệm sơ bộ quốc tế

-      ….

  • Công ước Brussel năm 1974 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa

Công ước Brussels (do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO - quản lý) được thông qua ngày 21/5/1974 tại thành phố Brussels (Bỉ). Sự xuất hiện của công ước này đánh dấu giai đoạn mới trong quá trình bảo vệ quyền của các tổ chức phát sóng đối với tín hiệu mang chương trình đã được mã hóa truyền qua vệ tinh (TH) nhằm phục vụ công chúng một cách gián tiếp - thông qua cơ cấu trung gian để nhận chương trình.

Công ước Brussels gồm 12 điều, quy định: mỗi quốc gia thành viên của Brussels có nghĩa vụ tiến hành những biện pháp thích đáng để ngăn chặn việc phân phối một cách trái phép Truyền hình. Song, không ngăn cản việc phân phối Truyền hình nếu các tín hiệu này là phần trích ngắn, bao gồm tin tức thời sự, đoạn trích, các trích dẫn ngắn, hoặc khi sự phân phối ở các nước đang phát triển chỉ nhằm mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.

  • Công ước Geneva năm 1971 về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm chống việc sao chép không được phép

Công ước Geneva là văn bản được ký kết ngày 29/10/1971, gồm 13 điều. Nội dung chính của Công ước quy định nghĩa vụ cho mỗi quốc gia thành viên về việc bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của các quốc gia thành viên khác chống lại việc làm bản sao, nhập khẩu và phát hành chúng mà không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm.

Kể từ ngày 6/7/2005, VN có nghĩa vụ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại việc sao chép, nhập khẩu, phát hành trái phép bản ghi âm có xuất xứ từ các nước thành viên; mọi nhu cầu sử dụng đều phải liên hệ với đối tác để xin phép, thoả thuận. Đồng thời, các nhà sản xuất bản ghi âm của VN cũng được bảo hộ tương tự.

  • Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản, ghi âm và tổ chức phát sóng:
  • Hiệp ước Washington năm 1989 về Sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp
  • Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới;
  • Hiệp định Việt Nam - Hoa Kì năm 1997 về thiết lập quan hệ quyền tác giả;
  • Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ năm 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ;
  • Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) năm 2000
  • Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

3.2. Hiệp định Thương Mại Việt- Mỹ:

Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức ký Hiệp Định Thương mại Việt- Mỹ (BTA) vào ngày 13/07/2000 sau bốn năm đàm phán từ năm 1996. Ngày 28/11/2001 Quốc Hội Quốc hội Việt Nam thảo luận và thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, Hiệp Định Thương mại Việt- Mỹ chính thức có hiệu lực từ tháng 12/2001 trong đó có nêu rõ các quy định về thương mại hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và đầu tư…

Việt Nam cam kết thực hiện Hiệp định về Quyền Sở hữu Trí tuệ Liên quan đến Thương mại (TRIPs) của Tổ chức Thương mại Thế giới sau 18 tháng kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Hiệp định song phương về TRIPs này còn có những quy định cao hơn so với hiệp định TRIPs của WTO do còn có những cam kết của Việt Nam về bảo hộ tín hiệu vệ tinh trong vòng 30 tháng. 

Thời hạn thực hiện điều chỉnh luật lệ về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, thực thi bảo hộ cũng như các thủ tục và chế tài trong tố tụng dân sự, hành chính, hình sự và hình phạt để thực hiện các nghĩa vụ của Việt nam là 12 tháng liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa và sáng chế, 18 tháng liên quan tới quyền tác giả và thông tin bí mật, 30 tháng liên quan tới Công ước Giơnevơ 1971, Công ước về phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền hình đã được mã hóa, thời hạn bảo hộ tác phẩm, và 24 tháng liên quan tới các quyền còn lại kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ  quy định về Sở hữu trí tuệ ta đã cam kết chấp nhận Công ước Giơnevơ 1971 về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống sự sao chép trái phép; Công ước Bécnơ 1971 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật; Công ước Paris 1967 về bảo hộ sở hữu công nghiệp; UPOV 1978 hoặc 1991 về bảo hộ giống thực vật mới; và Công ước Brúcxen 1974 về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh. Các cam kết cụ thể của ta được xây dựng trên cơ sở thừa nhận các nguyên tắc và nội dung quy định trong Hiệp định TRIPs và các công ước quốc tế khác. Cụ thể, ta đã chấp thuận bảo hộ 7 quyền sở hữu sau:

1.   Quyền tác giả và quyền liên quan với thời hạn không ít hơn 75 năm đối với tác phẩm kể từ khi công bố nếu không căn cứ theo đời người;

2.   Tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa;

3.   Nhãn hiệu hàng hóa không ít hơn 10 năm sau mỗi lần đăng ký và không hạn chế số lần đăng ký lại;

4.   Sáng chế không dưới 20 năm kể từ khi nộp đơn;

5.   Thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp ít nhất là 10 năm và có thể chấm dứt sau 15 năm kể từ khi đăng ký hoặc đưa ra sử dụng;

6.   Thông tin bí mật không ít hơn 5 năm đối với các dữ liệu sản phẩm có tính đến tính chất của dữ liệu và sự đầu tư, chi phí trong việc tạo ra các dữ liệu đó;

7.   Kiểu dáng công nghiệp ít nhất 10 năm.

Việc thực hiện điều khoản về sở hữu trí tuệ trong hiệp định này phải dựa trên nguyên tắc Đối xử quốc gia có nghĩa là : “Mỗi Bên dành cho công dân của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho công dân của mình trong việc xác lập, bảo hộ, hưởng và thực thi tất cả các Quyền sở hữu trí tuệ và mọi lợi ích có từ Quyền đó”.

3.3. Hiệp định TRIPs

Tiến trình gia nhập WTO trong đó bao gồm các vấn đề về khía cạnh thương mại về sở hữu trí tuệ bao gồm các bước đi cơ bản sau:

-        1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO.

-        8-1996: Việt Nam nộp “Bị vong lục về chính sách thương mại”, 1996: Bắt đầu đàm phán Hiệp định Thương mại song phương với Hoa kỳ (BTA)

-        1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-2000. Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

         7-2000: ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ

         12-2001: BTA có hiệu lực

-        4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác. Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương.

-        2002 – 2006: Đàm phán song phương với một số thành viên có yêu cầu đàm phán, với 2 mốc quan trọng:

-        10-2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU - đối tác lớn nhất

-        5-2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ - đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương.

-        26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng.

-        7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO.

Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, về nguyên tắc, chúng ta đã cam kết thực hiện các quy định cơ bản của Hiệp định TRIPs của WTO. Hiệp định này bao gồm hầu hết các quy định của các công ước quốc tế về bảo hộ sở hữu trí tuệ thông qua hình thức dẫn chiếu và cho phép các nước có thể bảo hộ cao hơn mức yêu cầu của Hiệp định TRIPs miễn là không trái với các quy định của nó. Những nội dung cơ bản thể hiện phạm vi điều chỉnh của TRIPS cũng như những điểm mới, tiến bộ của TRIPS và WTO so với các điều ước quốc tế, đó là: về nguyên tắc, WTO (TRIPS) đưa ra những giới hạn tối thiểu trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ. Các quốc gia có thể có cơ chế bảo hộ rộng hơn các quy định của TRIPS theo hướng có lợi cho các chủ thể của quyền, nhưng không hẹp hơn. TRIPS tham gia bảo hộ hầu hết các đối tượng của sở hữu trí tuệ như đối với quyền tác giả, và các quyền có liên quan, bên cạnh việc chấp nhận các quy định của Công ước Berne, TRIPS đã có thêm những điểm khác, tiến bộ. Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, TRIPS cũng có những điểm hoàn thiện hơn nhiều so với Công ước Paris 1967...
Các quy định của TRIPS về các biện pháp bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ có nhiều điểm khác hẳn, tiến bộ hơn so với các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã tồn tại từ trước đó. Các biện pháp bảo đảm thực thi mà TRIPS đưa ra bao gồm cả các biện pháp có tính chất hành chính, dân sự, hình sự và cả các biện pháp thực thi tại biên giới. TRIPS áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại đa phương nói chung của WTO, tạo ra sự ràng buộc chung trong việc tôn trọng tất cả các hiệp định thương mại đa phương của WTO. Người có quyền về sở hữu trí tuệ được tạo điều kiện để dựa vào pháp luật nhằm có được các quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản sở hữu trí tuệ và sự bảo đảm là khi quyền và lợi ích đó bị xâm phạm thì sẽ có cơ chế hữu hiệu ngăn chặn và xử lý thích đáng sự xâm phạm đó.

  • Mục tiêu của Trips:

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ nhằm mục đích: bảo hộ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ phải góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, và tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ.

  • Nguyên tắc: Trips hoạt động dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau

-     Đãi ngộ quốc gia:

Mỗi Thành viên phải chấp nhận cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với công dân của mình trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ.

-     Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc

Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc sự miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác.

  • Nội dung chính:

Hiệp định Trips đề cập tới các quyền SHTT khác nhau và cách thức bảo hộ; các thành viên WTO phải bắc buộc xậy dựng hệ thống bảo hộ quyền SHTT quốc gia nhằm đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu được nêu trong Hiệp định. Nền tảng của Hiệp Định là các hiệp ước quốc tế ký kết trong khuôn khổ của Tổ Chức Sở Hữu Trì Tuệ Thế Giới ( WIPO) như Công Ước Paris, Công Ước Bern. Ngoài ra Trips còn bổ sung một lượng lớn các quy định mới.

Các quy định có bản của Hiệp định có thể chia thành 5 nhóm sau:

-     Nhóm 1 : gồm các quy định liên quan đến việc thực hiện sự bảo hộ theo nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc, đặc biệt đối với việc cấp bằng độc quyền, xác lập, hưởng, phạm vi, duy trì và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ.

-     Nhóm 2:  gồm các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu về nội dung bảo hộ, các quyền kèm theo bằng và thời hạn bảo hộ tối thiểu của 7 loại quyền sở hữu trí tuệ sau: phát minh sáng chế (20 năm từ ngày nộp đơn xin cấp bằng - Điều 33); bản quyền và các quyền liên quan (phim: 50 năm, ảnh: 25 năm, các loại khác: 50 năm hoặc suốt đời tác giả cộng thêm 50 năm, những người trình diễn và sản xuất đĩa ca nhạc: 50 năm - Điều 14:5; phát thành: 20 năm kể từ ngày cuối của năm phát thanh - Điều 14:5); nhãn hiệu thương mại (7 năm cho mỗi lần đăng ký hoặc đăng ký lại - Điều 18); thiết kế công nghiệp (ít nhất là 10 năm - Điều 26:3); thiết kế mạch tích hợp (10 năm từ ngày đăng ký hoặc sử dụng - Điều 38:2 và 38:3); thông tin mật, kể cả bí mật thương mại (được bảo hộ chống lại việc tiết lộ không được phép và việc sử dụng không công bằng vì mục đích thương mại - Điều 39); chỉ dẫn địa lý (không cho phép đăng ký những nhãn hiệu thương mại gây hiểu lầm về nguồn gốc địa lý của hàng hóa, ví dụ champagne được hiểu là rượu được sản xuất tại Pháp chứ không phải nơi khác - Điều 22 và 23)

-     Nhóm 3:  gồm các quy định về quyền áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm ngăn chặn chủ sở hữu trí tuệ lạm dụng quyền của mình hoặc có hành động hạn chế thương mại hay chuyển giao công nghệ một cách bất hợp lý.

-     Nhóm 4: gồm các quy định về bảo đảm việc thực thi sự bảo hộ bằng các quy định về cơ chế tổ chức, thủ tục và đền bù có liên quan đến những việc như chủ sở hữu có thể được hỗ trợ, trợ giúp tạm thời tỏng luật dân sự; không để hải quan cho qua hàng giả, hàng ăn cướp hoặc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; trừng trị những kẻ làm hàng giả,...;

-     Nhóm 5:  gồm các quy định về thời hạn thực hiện việc điều chỉnh luật lệ quốc gia cho phù hợp với các quy định trên là 1 năm đối với các nước phát triển, 5 năm đối với các nước đang phát triển và đang chuyển đổi, và 11 năm đối với các nước kém phát triển nhất.

Các nội dung chính của Trips quy định các nhóm đối tượng tương tứng với quyền của chủ sở hữu và thời hạn bảo hộ có thể tóm tắt như sau:

  1. Quyền tác giả: chủ sở hữu có quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính,...(ngoài ra còn có các quyền liên quan của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát thanh, truyền hình,..) có thời hạn bảo hộ là 50 năm sau khi tác giả qua đời (đối với tổ chức phát thanh, truyền hình: 20 năm)
  2. Nhãn hiệu hàng hoá: chủ sở hữu có quyền độc quyền sử dụng, cấm người khác sử dụng không phép... có thời hạn bảo hộ là 07 năm, có thể gia hạn nhiều lần
  3. Chỉ dẫn địa lý: chủ sở hữu có quyền ngăn chặn các chỉ dẫn lừa dối công chúng...
  4. Kiểu dáng công nghiệp: chủ sở hữu có quyền độc quyền sản xuất, bán, nhập khẩu... có thời hạn bảo hộ tối thiểu tổng cộng là 10 năm (có thể chia thành các kỳ hạn).
  5. Sáng chế: chủ sở hữu có quyền độc quyền sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng không phép, chuyển nhượng, thừa kế ( có một số ngoại lệ trong chuyển nhượng-licence cưỡng chế)... có thời hạn bảo hộ ít nhất 20 năm tính từ ngày nộp đơn.
  6. Thiết kế bố trí: có quyền sao chép, nhập khẩu, phân phối... có thời hạn bảo hộ là 10 năm.
  7. Thông tin mật, kể cả bí mật thương mại: được bảo hộ chống lại việc tiết lộ không được phép và việc sử dụng không công bằng vì mục đích thương mạị.

Ngoài các tiêu chuẩn bảo hộ, các quy định về quyền tác giả... Trips còn dành một phần không nhỏ để quy định về ban hành luật pháp về bảo hộ quyền SHTT và xử lý các trường hợp vi phạm  của chính phủ các nước thành viên. Chẳng hạn trong điều 41 của Trips có quy định các nước thành viên phải đảm bảo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm quyền SHTT đề cập trong hiệp định. Mặt khác, các quy định này phải áp dụng theo cách thức tránh tạo ra các rào cản ảnh hưởng tới hoạt động thương mại hợp pháp. Các thủ tục và biện pháp chế tài theo quy định của Trips           gồm 02 nhóm cơ bản là: các biện pháp hành chính dân sự và hình sự. 

  • Những cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển đặc biệt là Việt nam khi tham gia Trips và các công ước quốc tế về SHTT:

Cơ hội cho Việt Nam:

-     Đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: Việc Việt Nam xây dựng và điều chỉnh hệ thống SHTT phù hợp với TRIPS – WTO cũng như việc tham gia các công ước quốc tế (Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá; Hiệp ước Hợp tác Patent...) và các hợp tác kinh tế quốc tế về SHTT (trong khuôn khổ ASEAN, ASEM, APEC, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ...) đã chứng tỏ cho cộng đồng quốc tế thấy thiện chí và nỗ lực của Việt Nam muốn gia nhập vào sân chơi chung của thế giới. Việt Nam sẵn sàng tuân thủ các luật lệ chung và thực tế đã tiến hành các công việc cần thiết để hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế. Tính đến thời điểm hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam về SHTT nhìn chung đã bao quát được hầu hết các vấn đề liên quan đến SHTT. Các văn bản được ban hành những năm gần đây và đặc biệt là Luật SHTT năm 2005 đã được xây dựng dựa trên những nguyên tắc và quy định cơ bản các công ước quốc tế và Hiệp định TRIPS. Thậm chí, một số điều khoản trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ còn cao hơn yêu cầu của Hiệp định TRIPS.

-     Bên cạnh đó, việc thực hiện các cam kết về SHTT đã góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp nội địa và các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam. Quá trình xây mới, bổ sung và hoàn thiện khung khổ pháp lý về SHTT và tăng cường hiệu lực thực thi bảo hộ quyền SHTT đã làm hạn chế đáng kể tình trạng hàng giả, hàng nhái và các hành vi vi phạm quyền SHTT trên thị trường, qua đó tạo tâm lý yên tâm tin tưởng cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một khi quyền sở hữu công nghiệp của nhà sản xuất/ doanh nghiệp được bảo đảm thì họ sẽ chú trọng hơn vào việc sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm. Người tiêu dùng cũng được tăng cường cơ hội tiêu dùng sản phẩm chất lượng cao và giảm thiểu nguy cơ trở thành nạn nhân của hàng giả, hàng lậu.

-     Việc thực hiện cam kết về SHTT còn có tác động tích cực tới việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Nếu hệ thống luật pháp của Việt Nam ngày càng phù hợp và thống nhất với luật pháp quốc tế thì Việt Nam sẽ trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, đặt trong bối cảnh khu vực kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương đang có triển vọng trở thành khu vực kinh tế năng động nhất trong thế kỷ XXI. Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư lớn đang sẵn sàng gia nhập vào thị trường Việt Nam ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể tin tưởng vào một môi trường kinh doanh lành mạnh khi Luật SHTT của Việt Nam đã có hiệu lực và Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ các quy định của Hiệp định TRIPS ngay sau khi gia nhập hệ thống thương mại lớn nhất toàn cầu.

Thách thức cho Việt Nam:

Việc thực thi Hiệp định Trips có thể ảnh huởng tới sự phát triển của các nước khác nhau. Đối với các nước phát triển thì việc thực thi Hiệp định này như là phần thưởng cho hoạt động sáng tạo mà đổi mới công nghệ tuy nhiên đối với các nước đang phát triển là một thách thức lớn với trình độ khoa học công nghệ thấp.

-     Với cơ chế bảo hộ khắt khe về SHTT theo quy định của Trips tạo ra bất bình đẳng giữa nền kinh tế tiên tiến và kinh tế nhỏ; giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Vì quyền sở hữu công nghệ thường ở các nước phát triển, phần lớn các bằng phát minh sáng chế thường nằm trong tay các nước phát triển. Với khả năng tài chính hạn hẹp, các chủ thể ở các nước đang phát triển không có khả năng thực hiện quyền SHTT ở các quốc gia phát triển khi mà các chi phí như thủ tục tư pháp, theo đuổi vụ kiện.. quá cao. Ngoài ra, các nước đang phát triển thường lợi dụng để trừng phạt thương mại....

-     Hiệp định thiên về những ngừoi nắm giữ bản quyền và làm tổn hại tới ngừơi tiêu dùng ở các quốc gia đang phát triển, vì việc baỏ hộ độc quyền cứng rắn tạo thế độc quyền sản phẩm, bán giá cao và gây khó khăn cho ngừoi tiêu dùng với thu nhập thấp tiếp cận sản phẩm, dịch vụ với giá cao.

-     Tác động xấu đối với nông dân khi mà phải bỏ chi phí cao mua các giống cây trồng...

-     Chi phí cho việc thực hiện hiệp định Trips: với các tiêu chí ngặt nghèo các quốc gia đang phát triển phảt tốn chi phí cao cho việc nghiên cứu, thục thi theo hiệp định và đặt doanh nghiệp vào môi trường pháp ly nghiêm ngặt hơn và ngăn cản các doanh nghiệp mới thành lập...

CHƯƠNG 3:  THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM – CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỰC THI BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM

I. Thực trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

1.1. Các số liệu về thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam (Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ)

1.1.1. Số liệu về thực thi quyền SHTT tại Việt Nam trong năm 2010

Nội dung

Việt Nam

Nước ngoài

Đơn đăng kí sáng chế được nộp

306

3276

Bằng độc quyền sáng chế đã cấp

29

793

Số đơn đăng kí giải pháp hữu ích đã nộp

215

84

Bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp

35

23

Đơn đăng kí kiểu dáng công nghiệp đã được nộp

1207

523

Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp

832

320

Đơn đăng kí nhãn hiệu quốc gia đã nộp

21204

6719

Giấy chứng nhận nhãn hiệu đã được cấp

12313

4207

Đơn đăng kí chỉ dẫn địa lý đã nộp

07

00

Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý đã được cấp

07

00

1.1.2. – Tình hình khiếu nại trong lĩnh vực SHTT:

a. Số đơn khiếu nại về vi phạm quyền SHTT

Nhìn chung số đơn khiếu nại về vi phạm sở hữu công nghiệp trong năm 2010 chiếm phần lớn là khiếu nại về Kiểu dáng công nghiệp và Nhãn hiệu, nguyên nhân là do hành vi xâm phạm chủ yếu liên quan đến 2 vấn đề trên. Một nguyên nhân nữa là do số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích của Việt Nam vẫn còn hạn chế và trình độ công nghệ của Việt Nam chưa thể tận dụng được các sáng chế và giải pháp hữu ích của nước ngoài nhằm thu lợi nhuận bất chính.

b. Số đơn khiếu nại về việc cấp văn bằng bảo hộ

Cũng giống như tình trạng khiếu nại về sở hữu công nghiệp, số đơn khiếu nại đối với nhãn hiệu chiếm 99,9% số đơn và tăng cao, điều này cho thấy việc nhận thức, bảo vệ nhãn hiệu của các doanh nghiệp đã được nâng cao.

1.1.3.  Tình hình đăng kí bảo hộ SHTT tại Việt Nam:

a. Số đơn đăng kí  bằng độc quyền sáng chế qua các năm

Năm

Số đơn đăng kí sáng chế qua các năm

Tổng số

Người nộp đơn Việt Nam

Người nộp đơn nước ngoài

1981-1988

453

7

460

1989

53

18

71

1990

62

17

79

1991

39

25

64

1992

34

49

83

1993

33

194

227

1994

22

270

292

1995

23

659

682

1996

37

971

1008

1997

30

1234

1264

1998

25

1080

1105

1999

35

1107

1142

2000

34

1205

1239

2001

52

1234

1286

2002

69

1142

1211

2003

78

1072

1150

2004

103

1328

1431

2005

180

1767

1947

2006

196

1970

2166

2007

21

2641

2860

2009

258

2621

2879

2010

306

3276

3582

b. Số bằng độc quyền sáng chế được cấp qua các năm

Năm

Số bằng độc quyền sáng chế được cấp qua các năm

Tổng số

Người Việt Nam

Người nước ngoài

1981-1989

74

7

81

1990

11

3

14

1991

14

13

27

1992

19

16

35

1993

3

13

16

1994

5

14

19

1995

3

53

56

1996

4

58

62

1997

0

111

111

1998

5

343

348

1999

13

322

335

2000

10

620

630

2001

7

776

783

2002

9

734

743

2003

17

757

774

2004

22

676

698

2005

27

641

668

2006

44

625

669

2007

34

691

725

2009

29

677

706

c. Số đơn đăng kí giải pháp hữu ích đã được nộp qua các năm

Năm

Số đơn đăng kí giải pháp hữu ích đã được nộp

Tổng số

Người

 Việt Nam

Người nước ngoài

1989

25

0

25

1990

39

25

64

1991

52

01

53

1992

32

01

33

1993

38

20

58

1994

34

24

58

1995

26

39

65

1996

41

38

79

1997

24

42

66

1998

15

13

28

1999

28

14

42

2000

35

58

93

2001

35

47

82

2002

67

64

131

2003

76

51

127

2004

103

62

165

2005

182

66

248

2006

160

76

236

2007

120

100

220

2008

116

168

284

2009

133

118

251

2010

215

84

299

                   

d. Số đơn đăng kí bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đã nộp qua các năm

Năm

Số đơn yêu cầu bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đã được nộp

Tổng số

Người nộp đơn Việt Nam

Người nộp đơn nước ngoài

1988

6

0

6

1989

52

8

60

1990

194

6

200

1991

420

2

422

1992

674

14

688

1993

896

50

946

1994

643

73

716

1995

1023

108

1131

1996

1516

131

1647

1997

999

157

1156

1998

931

126

1057

1999

899

137

1036

2000

1084

119

1203

2001

810

242

1052

2002

595

235

830

2003

447

233

680

2004

686

286

972

2005

889

446

1335

2006

1105

490

1595

2007

1338

567

1905

2008

1088

648

1736

2009

1430

449

1879

2010

1207

523

1730

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

e. Số bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp đã được cấp

Năm

Số Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp đã được cấp

Tổng số

Người nộp đơn Việt Nam

Người nộp đơn nước ngoài

1989

14

0

14

1990

91

9

100

1991

219

5

224

1992

433

6

439

1993

528

21

549

1994

524

27

551

1995

626

85

711

1996

798

68

866

1997

261

62

323

1998

728

94

822

1999

841

94

935

2000

526

119

645

2001

333

43

376

2002

368

9

377

2003

359

109

468

2004

412

235

647

2005

508

218

726

2006

678

497

1175

2007

896

474

1370

2008

908

429

1337

2009

747

491

1238

2010

832

320

1152

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

f. Đơn đăng kí nhãn hiệu quốc gia đã được nộp

Năm

Đơn nhãn hiệu quốc gia đã được nộp bởi

Tổng số

Người nộp đơn Việt Nam

Người nộp đơn nước ngoài

1982-1988

461

773

1234

1989

255

232

487

1990

890

592

1482

1991

1747

613

2360

1992

1595

3022

4617

1993

2270

3866

6136

1994

1419

2712

4131

1995

2217

3416

5633

1996

2323

3118

5441

1997

1645

3165

4810

1998

1614

2028

3642

1999

2380

1786

4166

2000

3483

2399

5882

2001

3095

3250

6345

2002

6560

2258

8818

2003

8599

3536

12135

2004

10641

4275

14916

2005

12884

5134

18018

2006

16071

6987

23058

2007

19653

7457

27110

2008

20831

6882

27713

2009

22378

6280

28658

2010

21204

6719

27923

g. Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu đã được cấp

Năm

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã được cấp cho

Tổng số

Người nộp đơn Việt Nam

Người nộp đơn nước ngoài

1982-1989

380

1170

1550

1990

423

265

688

1991

1525

388

1913

1992

1487

1821

3308

1993

1395

2137

3532

1994

1744

2342

4086

1995

1627

2965

4592

1996

1383

2548

3931

1997

980

1506

2486

1998

1095

2016

3111

1999

1299

2499

3798

2000

1423

1453

2876

2001

2085

1554

3639

2002

3386

1814

5200

2003

4907

2243

7150

2004

5444

2156

7600

2005

6427

3333

9760

2006

6335

2505

8840

2007

10660

5200

15860

2008

15826

7464

23290

2009

16231

6499

22730

2010

12313

4207

16520

h. Đơn đăng kí chỉ dẫn địa lý đã được nộp

Năm

Đơn đăng kí chỉ dẫn địa lý đã được nộp

Tổng số

Người Việt Nam

Người nước ngoài

2001

2

1

3

2002

2

2

2003

12

12

2004

3

3

2005

2

2

2006

4

1

5

2007

3

1

4

2008

7

1

8

2009

6

6

2010

7

7

i. Giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lý đã cấp đến năm 2010

Năm

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã được cấp cho

Tổng số

Người nộp đơn Việt Nam

Người nộp đơn nước ngoài

1982-1989

380

1170

1550

1990

423

265

688

1991

1525

388

1913

1992

1487

1821

3308

1993

1395

2137

3532

1994

1744

2342

4086

1995

1627

2965

4592

1996

1383

2548

3931

1997

980

1506

2486

1998

1095

2016

3111

1999

1299

2499

3798

2000

1423

1453

2876

2001

2085

1554

3639

2002

3386

1814

5200

2003

4907

2243

7150

2004

5444

2156

7600

2005

6427

3333

9760

2006

6335

2505

8840

2007

10660

5200

15860

2008

15826

7464

23290

2009

16231

6499

22730

2010

12313

4207

16520

1.2. Thực trang việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Trong năm 2011 trên cả nước đã có 1.561 vụ vi phạm về nhãn hiệu đã bị xử lý với số tiền phạt hơn 9 tỉ đồng,107 vụ vi phạm kiểu dáng công nghiệp bị xử lý với số tiền phạt trên 264 triệu đồng và bốn vụ vi phạm sáng chế/giải pháp hữu ích bị xử lý với số tiền phạt 10 triệu đồng. Về chỉ dẫn địa lý có 39 vụ vi phạm đã xử lý với tổng số tiền phạt trên 18 triệu đồng. (Cục sở Hữu trí tuệ)

Các hình thức xâm phạm quyền SHTT:

1. Phần lớn là hiện tượng đăng ký tên thương mại và tên nhãn hiệu gần giống nhau, thậm chí là trùng nhau.

VD: CT TNHH Cửa nhựa Châu Âu gây nhầm lẫn với CT TNHH Cửa sổ nhựa Châu Âu, nước suối Tavie gây nhầm lẫn với Lavie, việc sử dụng tên của một số ngân hàng như Đông Á, Á Châu, Việt Á, Nam Á, Bắc Á  gây nhầm lẫn cho khách hàng.

2. Việc sử dụng, kinh doanh phần mềm sao chép không có bản quyền. Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam hiện nay là 83% và ngày càng tinh vi

3. Các trường hợp còn lại là việc nhập hàng đã xâm phạm quyền SHTT về Việt Nam qua con đường bất hợp pháp, từ đó góp phần gia tăng tình trạng này tại Việt Nam.

Một số vụ việc xâm phạm quyền SHTT trong thời gian qua:

  • Hai doanh nghiệp tại TP.HCM là công ty cổ phần Thương hiệu quốc tế (Interbrand JSC) và công ty Truyền thông thương hiệu quốc tế (Inter Brand Media Co., Ltd) vừa bị Interbrand Group (Anh quốc) kiện ra toà án TP.HCM vì dùng từ "Interbrand" được cho là nổi tiếng. Các bị đơn nói họ không "ăn cắp" nhãn hiệu của Interbrand Group, vì công ty họ thành lập trước thời điểm Interbrand Group được cục SHTT Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại  Việt Nam (ngày 6.5.2010). Interbrand Group là nhãn hiệu nổi tiếng và được bảo hộ theo điều 6bis Công ước Paris. Theo đó, nhãn hiệu nổi tiếng không cần phải đăng ký vẫn được bảo hộ. Việc đăng ký không tạo ra nhãn hiệu nổi tiếng. Những nhãn hiệu đã đăng ký rồi có thể bị huỷ vì những nhãn hiệu nổi tiếng, nên việc đăng ký hay chưa không quan trọng.
  • Hai nhãn hiệu "BUON MA THUOT & chữ Tàu" và "BUON MA THUOT COFFEE 1896 & logo" gắn liền với nhiều sản phẩm trong đó có cà phê, đã được Trung Quốc cấp chứng nhận bảo hộ độc quyền cho Công ty Guangzhou Buon Ma Thuot Coffee Co.,Ltd. Hai nhãn hiệu này được đăng ký lần lượt vào ngày 14/11/2010 và 14/6 năm nay, tại tỉnh Quảng Đông.
  • Một thương hiệu khác nổi tiếng về cà phê ở Việt Nam là Đăk Lăk cũng đã bị công ty Itm Entreprises (Société Anonyme) ở Pháp đăng ký độc quyền nhãn hiệu dưới tên của mình. Chứng nhận do cơ quan Sở hữu trí tuệ Pháp cấp từ ngày 25/9/1997, được đăng ký bảo hộ ở hơn 10 quốc gia khác.
  • Ngày 11.5.2011, một doanh nghiệp tại Hồng Kông là Cty TNHH thương mại Việt Hương (VIET HUONG TRADING COMPANY LIMITED) đã chính thức nộp đơn số 9448516 lên cơ quan có thẩm quyền để đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu "Phú quốc" cho nhóm hàng hóa 30 (trong đó có nước mắm) trên lãnh thổ Trung Quốc. Hình ảnh thương hiệu mà Cty Việt Hương đăng ký bảo hộ chính xác là có chữ "Phú quốc" kèm logo là hình con cá cơm và bản đồ Việt Nam (có vẽ dấu hiệu chỉ đến vị trí huyện đảo Phú Quốc, thuộc tỉnh Kiên Giang). Các thông tin này đã được đối tác của Bross và Cộng sự là một công ty luật tại Trung Quốc kiểm tra, xác tín theo yêu cầu. Việc chủ thể nói trên đăng ký nhãn hiệu "Phú quốc và hình ảnh" dưới tên của mình cũng sẽ gây nhầm lẫn nghiêm trọng cho công chúng về nguồn gốc Phú Quốc gắn liền với sản phẩm nước mắm nổi tiếng đang được Việt Nam bảo hộ.

1.3. Thành tựu và hạn chế

1.3.1. Thành tựu

Sau 5 năm kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) bắt đầu có hiệu lực (2006), công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể, trong đó phải kể đến vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước về SHTT được thể hiện rõ qua các thành tựu sau:

  • Các chính sách, văn bản pháp luật về bảo hộ SHTT dần được hoàn thiện, cụ thể trong năm 2010 đã ban hành 05 văn bản gồm:

-     Nghị định 119/2010/NĐ –CP ngày 31/12/2010 sửa đổi bổ sung một số điều của NDD105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006  quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT. (Theo đó mức phạt tối đa đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT là 500 triệu đồng đối với bản quyền, ghi âm… và 250 triệu đồng đối với hàng hóa có giá trị trên 500 triệu đồng).

-     Nghị định 122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp. Theo đó, các sáng chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia là sáng chế mật và sẽ được xử lý theo quy trình riêng. Ngoài ra, Nghị định này cũng trao thêm quyền cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc quản lý các địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản của địa phương bên cạnh quyền quản lý chỉ dẫn địa lý của địa phương đó; xác định rõ vai trò của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tiến hành nộp đơn đăng ký và tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý dùng cho các đặc sản của địa phương.

-     Nghị định 97/2010/NĐ-CP ngày 21/09/2010 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Nghị định này cũng quy định một số biện pháp xử lý đối với trường hợp xâm phạm quyền SHCN.

-     Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng kí doanh nghiệp. Nghị định này bổ sung thêm một số chữ cái F,J,Z,W vào tên doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp không được đăng kí tên trùng hoặc gây nhầm lẫn trong phạm vi toàn quốc thay vì tỉnh, thành phố như trước.

-     Thông tư số 13/2010//TT-BKHCN ngày 30/07/2010 giảm thiểu một số các thủ tục hành chính trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ.

  •  Công tác hướng dẫn thực hiện pháp luật về SHTT được tiến hành thường xuyên, góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật trong hoạt động thực tiễn sản xuất, kinh doanh, quản lý.
  • Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực SHTT được đẩy mạnh, bao gồm:

-     Xây dựng chính sách pháp luật đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế dưới sự giúp đỡ của WIPO, trong đó chú trọng việc nâng cao năng lực, hiện đại hóa cơ quan quản lý nhà nước về SHTT, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức của công chúng về SHTT.

-     Mở rộng phạm vi hợp tác cũng như đối tác trong lĩnh vực SHTT như WTO, APEC, ASEAN, tích cực tham gia vào các hoạt động đàm phán liên quan đến SHTT trong khuôn khổ các hiệp định hợp tác với các nước, các khu vực như Nga, Mỹ, EU…

-     Công tác đào tạo, tuyên truyền về SHTT được thay đổi theo hướng chủ động và đa dạng hóa đối tượng tham gia, hướng đến các nội dung đang thu hút sự quan tâm của xã hội như tạo dựng, khai thác tài sản trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ… Việc tuyên truyền SHTT trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng được đẩy mạnh cả về nội dung và số lượng phát hành như  chương trình “Chắp cánh thương hiệu” phát trên vtv3 mỗi tuần một số, chương trình phổ cập về SHTT được phát rộng rãi trên đài truyền hình của 23 tỉnh, thành phố trong khuôn khổ chương trình 68.

-     Phát triển cơ sở dữ liệu và hoàn thiện công cụ tra cứu thông tin trong lĩnh vực SHTT nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác, cập nhật thông tin thường xuyên của các cá nhân, tổ chức như: trang tin điện tử: NOIP.GOV.VN, công báo SHCN bản điện tử trên CD rom và đã được đưa lên trang web của Cục SHTT nhằm đáp ứng nhu cầu xác lập quyền SHTT nhanh nhất, chính xác nhất. Ngoài ra Cục SHTT còn tăng cường năng lực của thư viện SHTT bằng cách đưa hàng trăm đầu sách chuyên khảo về SHTT vào thư viện.

  •  Công tác thực thi pháp luật , đấu tranh chống xâm phạm quyền SHTT được đẩy mạnh qua việc tăng cường thanh kiểm tra, nâng cao mức xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT. Điển hình là việc nâng cao mức phạt hành chính trong trường hợp có hành vi xâm phạm quyền gây thiệt hị cho người tiêu dùng, xã hội được mở rộng đối với các hành vi xâm phạm gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu lên mức trần tối đa 500 triệu thay vì từ 1 đến 5 lần giá trị hàng hóa vi phạm như trước đây. Các cơ quan chức năng cũng thể hiện quyết tâm trong việc đấu tranh qua việc ban hành hành thông tư liên tịch số số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT.

1.3.2. Hạn chế:

Đằng sau những thành tựu trên, công tác bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chung là do vấn đề SHTT còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam, Luật SHTT mới ra đời và còn đang trong quá trình hoàn thiện. Không những vậy, trong bối cảnh xã hội, kinh tế của nước ta, việc bảo hộ quyền SHTT còn gặp nhiều khó khăn từ các phía:

  • Về phía các doanh nghiệp:

-        Thiếu hiểu biết về pháp luật hoặc với cách kinh doanh “ăn xổi”  của nhiều doanh nghiệp ra đời sau bằng cách ăn theo thương hiệu có uy tín trước đó để đặt tên cho nhãn hiệu của mình, hoặc lấy tên nhãn hiệu gần giống với tên của thương hiệu nổi tiếng đã được người tiêu dùng tin cậy. Qua thống kê của các cơ quan chức năng, các sản phẩm trong lĩnh vực y tế, thực phẩm, điện máy… là các sản phẩm bị làm nhái, làm giả nhiều nhất.

-        Tâm lý né tránh, ngại kiện cáo trong khi thủ tục tố tụng về SHTT còn thiếu càng làm cho số vụ tranh chấp giải quyết qua con đường Toàn án ít đi. Có những vụ muốn truy cứu trách nhiệm hình sự cũng không thể, hồ sơ cứ bị chuyển tới chuyển lui giữa QLTT và cơ quan điều tra.

-        Một số DN lo ngại về việc ảnh hưởng đến doanh số nên không dám công khai sản phẩm bị làm giả. Hay khi bắt được một sản phẩm giả cần đối chứng với sản phẩm thật thì nhà sản xuất lại sợ bị ảnh hưởng đến uy tín nên không cung cấp cho cơ quan chức năng các giấy tờ cần thiết để đối chiếu. Vì vậy sự phối hợp thông tin giữa DN với cơ quan chức năng trong việc chống hàng giả là rất cần thiết.

-        Ít DN có bộ phận chuyên chăm lo về SHTT, hầu như chưa có doanh nghiệp nào có chiến lược về SHTT, chưa coi SHTT là bộ phận trong chiến lược phát triển của mình. Tài sản trí tuệ chưa trở thành đối tượng quản lý như quản lý tài sản thông thường.

  • Về phía Người tiêu dùng:

-        Thái độ thiếu tôn trọng pháp luật, tâm lý thích hàng giá rẻ nên tạo điều kiện cho việc xâm phạm quyền SHTT ngày càng gia tăng: điển hình là việc sử dụng phần mềm không có bản quyền, sách in lậu…

-        Người tiêu dùng cũng ngại kiện cáo nên không đến cơ quan chức năng để đòi quyền lợi cho mình. Thời gian đi kiện, thủ tục hành chính, những chứng cứ cần có quá phiền phức mà không biết có đượcgiải quyết rốt ráo hay không. Hơn nữa do thói quen mua hàng không cần chứng từ hóa đơn, chứng nhận xuất xứ nên không thể truy được nguồn gốc của hàng hóa…

  • Về phía Cơ quan quản lý Nhà nước về Sở hữu trí tuệ:

-        Pháp luật về sở hữu trí tuệ chưa hoàn chỉnh, thời gian xây dựng còn chậm, đặc biệt là sự chồng chéo trên nhiều văn bản, thiếu sự thống nhất nên khó áp dụng. Một trường hợp cụ thể là sự mâu thuẫn và chưa rõ ràng trong văn bản luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ trong việc đặt và sử dụng tên Doanh nghiệp, tên Thương mại và Nhãn hiệu. Ngoài ra còn có sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật trong lĩnh vực y tế, dược phẩm và nông nghiệp (liên quan đến cấp phép lưu hành sản phẩm trên thị trường, cấp phép nhập khẩu thuốc chữa bệnh và thuốc bảo vệ thực vật).

-        Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về SHTT từ cấp Trung ương đến địa phương hiện thuộc về nhiều ngành, nhiều cấp nên bộ máy thực thi đang trở nên cồng kềnh, thiếu tập trung. Cụ thể, ở Trung ương có bốn bộ tham gia công tác này nhưng pháp luật hiện hành không quy định thẩm quyền của Bộ Thông tin Truyền thông. Hơn nữa, hoạt động của các cơ quan này lại độc lập dẫn đến sự phối hợp còn lỏng lẻo, thiếu thống nhất, không đồng bộ và kém hiệu quả vì không có cơ chế ràng buộc trách nhiệm phối hợp. Trong khi đó, ở địa phương, hiện có bốn sở chuyên môn tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước về SHTT. Tuy nhiên, sự phối của các cơ quan này không chặt chẽ, thậm chí mỗi sở hoạt động một kiểu, mỗi địa phương có một kiểu hoạt động quản lý nhà nước về SHTT khác nhau. Thực trạng đó dẫn đến tình hình quản lý SHTT tại địa phương hiện kém hiệu quả. Sau đây là 2 ví dụ về tình trạng trên:

1 - Công ty Société Produits Nestlé S.A của Thuỵ Sĩ tố cáo Công ty TNHH Gold Roast Việt Nam (Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore, tỉnh Bình Dương) sản xuất café sữa “Gold Roast” trên nhãn hiệu có “hình cốc đỏ” tương tự, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “hình cốc đỏ” (bao gồm cả màu sắc) đã được bảo hộ cho các sản phẩm café thuộc nhóm 30. Thanh tra tỉnh Bình Dương đã kiểm tra và kết luận Gold Roast đã vi phạm Luật Sở hữu công nghiệp, phạt hành chính đơn vị này 100 triệu đồng. Gold Roast đã nhờ Viện Nghiên cứu SHTT thẩm định và đơn vị này kết luận không gây nhầm lẫn, vì thế Gold Roast khiếu kiện quyết định xử phạt này tại Toà án Nhân dân tỉnh Bình Dương. Toà án Nhân dân Bình Dương đã trưng cầu giám định vì cho rằng kết luận của Cục SHTT và Viện Nghiên cứu SHTT không phải là văn bản giám định.

2 – Trường hợp khác là việc tranh chấp nhãn hiệu bưởi Tân Triều, trong đó UBND tỉnh Đồng Nai không chấp nhận đơn đăng kí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ  của doanh nghiệp Quê Hương nhưng sau đó doanh nghiệp nộp đơn lên Cục sở hữu trí tuệ và được chấp nhận.

-        Năng lực chuyên môn còn hạn chế do nguồn nhân lực thực thi pháp luật còn thiếu và yếu, nguyên nhân là:

1- Chưa có đào tạo chuyên về SHTT, Luật Sở hữu trí tuệ đã ra đời và có hiệu lực, nhưng việc đào tạo luật này trong các trường đại học và cao đẳng còn khá khiêm tốn.

2- Thiếu thẩm phán xử tranh chấp về SHTT.

-        Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, chính sách pháp luật về sở hữu trí tuệ chưa thực sự hiệu quả và bám sát tình hình của doanh nghiệp. Nội dung tuyên truyền còn cơ bản và dản trải, đối tượng tham gia chưa được chọn lọc theo nhu cầu cập nhật thông tin thiết thực…

-        Mức phạt đối với các hành vi vi phạm còn nhẹ, chưa đủ tính răn đe. Một phần là do các đơn vị vi phạm thường phân phối hàng theo nhiều cơ sở nhỏ lẻ, gây khó khăn trong việc phát hiện, xác định giá trị vi phạm, giá trị thiệt hại… từ đó không thể truy cứu trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, trong quá trình xử lý vi phạm, cơ quan chức năng có thể phải chờ các kết luận giám định của đơn vị có thẩm quyền, từ đó kéo dài thời gian và đối tượng vi phạm có thể đã tiêu thụ các sản phẩm vi phạm quyền Sở hữu trí tuệ.

-        Công tác giám định SHTT còn gặp nhiều vướng mắc. Điển hình là nguồn nhân lực giám định trong lĩnh vực này còn thiếu và chưa chuyên nghiệp. Ngay trong văn bản Luật Sở hữu trí tuệ, quy định về giám định viên theo vụ việc cũng chưa được đề cập. Điều này dẫn đến những lúng túng khi cần giám định những trường hợp, lĩnh vực ít người am hiểu và chưa có tiền lệ.

-        Hệ thống quản lý thông tin của các cơ quan trong việc đặt tên doanh nghiệp còn chưa kết nối giữa các tỉnh thành trong toàn quốc. Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, doanh nghiệp không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc đã giải thể. (Trước đây, việc chống trùng tên chỉ áp dụng trong phạm vi mỗi tỉnh, thành). Các doanh nghiệp đã đăng ký tên doanh nghiệp phù hợp với quy định ở thời điểm đăng ký nhưng không phù hợp với quy định về chống trùng, nhầm lẫn tên doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc vừa nêu không bắt buộc phải đăng ký đổi tên; nhưng cơ quan quản lý nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng với nhau để đăng ký đổi tên hoặc bổ sung tên địa danh để làm yếu tố phân biệt tên doanh nghiệp.

II. Một số giải pháp nâng cao thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nhằm thu hút đầu tư FDI

Theo đánh giá của các đối tác kinh tế quan trọng, Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng vấn đề thực thi đang cần một lộ trình và giải pháp phù hợp. Do đó, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nhằm thu hút đầu tư FDI

2.1. Nhóm giải pháp về pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

  • Rà soát lại tất cả các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến sở hữu trí tuệ và bổ sung thêm những vẫn đề còn thiếu

Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi và bổ sung nhiều nội dung liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong Luật Hải quan, Bộ Luật hình sự, ban hành nhiều văn bản cấp Chính phủ và cấp bộ về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, tăng cường hợp tác song phương và đa phương về sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, như sáng kiến chung Việt Nam- Nhật Bản, Dự án Việt Nam-Thụy sỹ, Chương trình hợp tác EC-ASEAN (ECAP)… Ngay từ năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã cho phép thành lập Hiệp hội chống hàng giả và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (viết tắt là VACIP), bao gồm nhiều thành viên là các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới như Unilever, Nike, Glaxo Smith Kline, Procter & Gamble, Honda… Hiệp hội đã góp phần quan trọng bảo vệ quyền SHTT của các thành viên, phối hợp với các cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý vi phạm về SHTT và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Ví dụ trong hai năm 2009-2010, nhờ sự phối hợp tốt giữa các cơ quan chức năng và Công ty HONDA Việt Nam, đã có 25 vụ vi phạm nhãn hiệu và 64 vụ vi phạm về thiết kế liên quan đến sản phẩm của HONDA đã được xử lý, bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam chưa có tính hệ thống, tính thống nhất; cần phải quy định thêm những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh; các quy định phải rõ ràng, cụ thể; các quy định phải tương thích với các công ước quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ mà chúng ta đã là thành viên, đặc biệt là Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Bởi vì đây là những công ước xương sống của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế. Hơn nữa, các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ phải hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cả các chủ thể sáng tạo và các chủ thể có liên quan khác chứ không được gây phiền hà cho họ.

  • Khuyến cáo các nhà đầu tư nước ngoài và hướng dẫn luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan đến sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã ký cho các nhà đầu tư nước ngoài khi mới vào đầu tư tại Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và vi phạm pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng có dấu hiệu trở thành phổ biến, và, mức độ phức tạp, nghiêm trọng của tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng có dấu hiệu gia tăng và tinh vi. Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của hoạt động thực thi và bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều điểm tối. Những người có quyền hưởng quyền sở hữu trí tuệ chỉ tạo ra tác phẩm nhưng chưa quan tâm thực sự đến việc bảo vệ quyền của mình thông qua cách đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhiều tổ chức hiệp hội chưa nhận thức được sự cần thiết phải đứng ra bảo vệ quyền lợi của các thành viên. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc xử lý các hành vi vi phạm của các cơ quan, tổ chức chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ, thiếu kinh nghiệm và chưa đủ mạnh mẽ về chuyên môn cũng như các phương tiện cần thiết để có khả năng xử lý các vi phạm một cách hữu hiệu. Những tồn tại trên có nguyên nhân chính là do: bản thân các các nhà đầu tư nước ngoài hưởng quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự tích cực, chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy chúng ta cần lập tổ chuyên tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài nằm trong nhóm tư vấn về pháp luật đầu tư nước ngoài nói chung. Điều này sẽ giúp những nhà đầu tư nước ngoài đánh gía cao về việc quyết định đầu tư vào Việt Nam

Các doanh nghiệp, chủ sở hữu tài sản trí tuệ, bên cạnh việc đăng ký bảo hộ và trông chờ sự bảo hộ của luật pháp, để hạn chế ở mức thấp nhất tài sản trí tuệ bị xâm phạm, nên có một hệ thống nhân sự và kỹ thuật chuyên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Những doanh nghiệp có uy tín trên thế giới đều rất coi trọng vấn đề thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, hàng hóa để bảo vệ quyền lợi của chính mình và quyền lợi của cộng đồng. Ngay tại Việt Nam, việc Công ty Unilever đã thành lập “đội ACF” với chức năng là chuyên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ các nhãn hàng của Công ty trên cơ sở chủ động hợp tác với các cơ quan chức năng, là một kinh nghiệm tốt.

  • Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Cần đảm bảo phối hợp hoạt động hiệu quả giữa các cơ quan quản lý của Nhà nước và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan trong những công việc nhằm hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ. Phải coi việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ không chỉ là việc của các cơ quan quản lý mà phải coi đó là việc của toàn dân, của các doanh nghiệp, các Hiệp hội, các đại diện sở hữu trí tuệ, những người sáng tạo… Nhưng vai trò lãnh đạo, quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải được đặt ở vị trí trung tâm. Chỉ như vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ của chúng ta mới thực sự khuyến khích sự sáng tạo, là cơ sở pháp vững chắc để bảo vệ thành quả sáng tạo và có tính khả thi cao.

  • Xác định trách nhiệm cụ thể giữa các cơ quan, đơn vị thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Thực thi quyền sở hữu trí tuệ không thể thực hiện được nhanh chóng “một sớm một chiều” và nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chức năng như: cán bộ sở hữu trí tuệ thuộc các cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ như cơ quan bản quyền, cơ quan sở hữu trí tuệ, quản lý thị trường, đơn vị chuyên trách của cơ quan cảnh sát điều tra, hải quan, cán bộ Toà án lực lượng thanh tra chuyên ngành của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ Công thương, quản lý thị trường, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng … Ngoài việc tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp quy về sở hữu trí tuệ, cần quy định rõ cơ quan đầu mối quản lý và có chế tài xử lý thích hợp đối với các vi phạm của cả người thực thi cũng như người quản lý việc thực thi. Phải xây dựng được hệ thống cơ chế giám sát mang tính liên ngành nhằm phòng, chống một cách hiệu quả các hành vi vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó lưu ý đến việc chuẩn bị đủ lực lượng thực hiện và phải thực hiện một cách nghiêm túc, thường xuyên, tránh tình trạng phát động theo phong trào.

Cần sắp xếp lại và tăng cường phối hợp của các cơ quan thực thi, từ tòa án đến các cơ quan bảo đảm thực thi nội địa: Thanh tra (nhà nước và chuyên ngành), ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế phải được tạo điều kiện áp dụng các biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả, khắc phục sự chồng chéo, phân công rõ ràng chức năng quyền hạn của từng cơ quan theo hướng một cơ quan đầu mối, đó là thanh tra chuyên ngành, còn tòa án giải quyết các vụ kiện dân sự, ủy ban nhân dân, thanh tra, quản lý thị trường quyết định xử phạt (tùy theo hình thức và mức phạt), cảnh sát kinh tế chỉ có chức năng điều tra, hải quan kiểm soát ở biên giới về sở hữu trí tuệ.

Mặc dù luật Sở hữu trí tuệ đã nêu rõ trách nhiệm của từng cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nhưng chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm phải phối hợp công tác giữa các cơ quan này, chế tài đối với người đứng đầu các cơ quan này nếu để xảy ra tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguyên nhân từ việc không phối hợp công tác với nhau. Bởi vậy cần có quy định cụ thể về phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

2.2. Nhóm giải pháp thực thi pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

  • Nâng cao vai trò của Toà án dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ.

Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách kịp thời và có hiệu quả, xác định rõ thẩm quyền vụ việc của Toà án trong việc xét xử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, tham khảo một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ ở một số nước trên thế giới là những biện pháp hữu hiệu trong các vụ giải quyết tranh chấp và an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài

Thêm nữa, cần hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật hành chính. Quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho Tòa án (tương ứng với cơ chế thực hiện quyền khiếu kiện hành chính theo yêu cầu của TRIPS). Xây dựng và ban hành những quy định, hướng dẫn riêng về thủ tục tố tụng và những vấn đề cụ thể, riêng biệt cần được áp dụng trong quá trình giải quyết các khiếu kiện hành chính về sở hữu trí tuệ. Mở rộng thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cho Toà án cho phù hợp với Hiệp định thương mại Việt nam-Hoa Kỳ (BTA) và Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

  • Tăng mức xử phạt đủ nặng về mặt kinh tế và pháp lý đối với các hành vi vi phạm, xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ

Cần quy định mức xử phạt đủ nặng về mặt kinh tế và pháp lý đối với các hành vi vi phạm, xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ để tăng tính nghiêm minh và thực thi có hiệu quả các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Cụ thể, quy định về mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo hướng: tăng mức phạt tối đa; mức phạt phải cao hơn lợi nhuận mà người vi phạm có thể thu được từ hành vi vi phạm và tăng theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm như vi phạm có tổ chức, tái phạm, vi phạm liên quan đến các sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và sức khoẻ của cộng đồng.

Ngoài ra, quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo hướng giảm bớt đầu mối và tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo; quy định rõ ràng thẩm quyền của từng cơ quan và phạm vi cũng như cách thức phối hợp giữa những cơ quan này khi xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Ví dụ: Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/06/2006 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa thông tin quy định mức xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực hoạt động này tối đa là 30 triệu đồng (đối với hành vi in lậu). Đây là mức phạt quá nhẹ so với lợi nhuận mà các đối tượng xâm phạm quyền sở hữu thu được. Do đó, cần nghiên cứu điều chỉnh cách tính mức phạt phải cao hơn, nghiêm khắc hơn đối với hành vi vi phạm, sao cho mức phạt tối thiểu cũng phải cao hơn lợi nhuận xác định được do hành vi vi phạm gây ra.

Ngoài ra, cần thay đổi quy định về hàng giả có gía trị thấp hơn 30 triệu đồng thì vẫn xử lý hành chính theo hướng hạ thấp phù hợp với thực tế. Trong thực tiễn  ít khi xảy ra những vụ việc sản xuất hoặc buôn bán hàng giả với số lượng lớn như vậy, mà thường là sản xuất, vận chuyển tiêu thụ nhỏ bé, hàng giả thường ở mức dưới ba mươi triệu đồng nên rất khó để có thể xử lý về hình sự các hành vi này. Như vậy không đủ nghiêm minh trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

  • Nâng cao trình độ chuyên môn cho các lực lượng thực thi quyền bảo hộsở hữu trí tuệ

Hiện nay, so với yêu cầu thì các lực lượng thực thi có rất ít cán bộ. Quản lý thị trường đông nhưng không mạnh về chuyên môn, nghiệp vụ. Lực lượng thanh tra KH&CN, thanh tra văn hóa, thanh tra thông tin truyền thông tuy có lợi thế về mặt nghiệp vụ nhưng lại yếu về mặt lực lượng. Cần có chương trình huấn luyện cán bộ đầu mối về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại các cơ quan thực thi ở trung ương và địa phương. Trong kế hoạch hành động cần đề ra những nội dung cụ thể thiết thực trong các lĩnh vực quản lý nhà nước để tăng cường sự gắn kết giữa các cán bộ đầu mối. Chương trình bồi dưỡng kiến thức về sở hữu trí tuệ cho các cán bộ đầu mối cần được tổ chức định kỳ theo hướng chuyên sâu từng bước.

Bên cạnh sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước, cần có chương trình trợ giúp các tổng công ty, doanh nghiệp lớn thành lập bộ phận theo dõi phòng chống xâm phạm quyền và hàng giả và hợp tác chặt chẽ với các cơ quan thực thi quyền trong phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm quyền.

Tương tự, cần trợ giúp các hiệp hội ngành nghề thành lập bộ phận hoặc đầu mối liên lạc về chống hàng giả, chống xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp để tư vấn cho các thành viên về chiến lược, kỹ năng chống hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, cần xây dựng kế hoạch tăng cường lực lượng luật sư, người đại diện sở hữu trí tuệ, tổ chức giám định sở hữu trí tuệ để trợ giúp chuyên môn, pháp luật cho các doanh nghiệp cũng như hệ thống cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

  • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm luật sở hữu trí tuệ

Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và chủ sở hữu, thông qua các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện tội phạm, kiên quyết xử lý đúng pháp luật, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để toàn dân được biết. Nâng cao hơn nữa vai trò của tòa án trong việc xét xử nghiêm minh các hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền sở hữu trí tuệ. Nghiên cứu thành lập đơn vị chuyên trách chống tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đặt trong hệ thống các cơ quan cảnh sát điều tra

Phân cấp nhiệm vụ xét xử của Tòa án về sở hữu trí tuệ. Do đặc thù của hoạt động sở hữu trí tuệ, nên rất cần thành lập Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ thuộc Tòa án Nhân dân các cấp, Tòa chuyên trách này phải độc lập với Tòa Dân sự, Tòa Hình sự, Tòa hành chính… Khi đã thành lập được Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ cần phân cấp nhiệm vụ xét xử về sở hữu trí tuệ cho mỗi cấp Tòa án.

  • Cần có chương trình hành động thống nhất, đồng bộ ở phạm vi quốc gia về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Mối gắn kết lỏng lẻo giữa các cơ quan thực thi thuộc các bộ ngành khác nhau, các địa phương khác nhau là một trong các nguyên nhân cản trở quá trình xây dựng pháp luật cũng như thi hành pháp luật về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù chúng ta có thêm tổ chức giám định sở hữu trí tuệ bên cạnh các cơ quan chuyên môn về sở hữu trí tuệ nhưng sự gắn kết giữa hệ thống cơ quan bổ trợ này với các cơ quan thực thi còn mang nặng tính sự vụ và chưa có tính hệ thống. Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ và cơ quan thực thi thuộc các bộ ngành, địa phương theo cả chiều dọc và chiều ngang hiện nay còn tản mát, chưa được củng cố trong một cơ chế hành động thống nhất. Vai trò của chủ thể quyền, các luật sư đại diện đã từng bước được nâng cao và được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật, nhưng trong thực tế họ chỉ mới phát huy được trong giải quyết, xử lý các vụ việc cụ thể dựa vào mối quan hệ trực tiếp hơn là dựa trên cơ sở hợp tác công - tư minh bạch và hợp pháp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng cần thiết xây dựng chiến lược quốc gia về SHTT, trong đó xây dựng các bước đi phù hợp và hiệu quả với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam. Chính phủ cần đưa ra chương trình hành động quốc gia cụ thể trong từng  năm cho hoạt động bảo hộ và thực thi quyền. Theo đó, các bộ ngành, cơ quan quản lý chuyên môn, cơ quan thực thi thuộc các bộ, ngành, địa phương khác nhau có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ của mình trong mối quan hệ gắn kết với nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quan khác nhằm đạt được mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ cũng cần thiết lập tổ chức thường trực giúp Chính phủ xây dựng và giám sát thực hiện chiến lược và chương trình hành động, đồng thời có nhiệm vụ điều phối hoạt động của các cơ quan về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các bộ, ngành, địa phương. Trước mắt, Bộ Khoa học và Công nghệ, với vai trò là cơ quan đầu mối về sở hữu trí tuệ, cần nhanh chóng xây dựng Đề án Kế hoạch hành động quốc gia tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Nội dung Đề án bao gồm: Mục tiêu, nội dung của đề án, lộ trình thực hiện trong thời gian 5 năm. Trong đó nêu rõ thời gian thực hiện từng nội dung, các nội dung ưu tiên đối với từng lực lượng, mục đích đạt được trong từng giai đoạn và các biện pháp thích hợp để đạt kết quả, mục tiêu đã đặt ra.

Ngoài ra, chúng ta cần phổ biến luật sở hữu trí tuệ trong nhân dân và đưa bộ môn sỡ hữu trí tuệ vào trường học. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyết trong hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia. Vì vậy, tiếp tục nâng cao nhận thức cho người dân, các tổ chức và cá nhân có liên quan, nhằm đưa Luật sở hữu trí tuệ vào cuộc sống là điều cần thiết…

KẾT LUẬN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có những tác động tích cực đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta trong những năm qua, đặc biệt là trong việc bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, góp phần duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, đóng góp cho ngân sách địa phương và quốc gia tăng qua các năm. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, đội ngũ lao động được thu hút vào làm việc có thu nhập cao hơn so với các khu vực khác, hơn nữa lại từng bước nâng cao tay nghề, đội ngũ cán bộ quản lí được nâng cao về kiến thức, kinh nghiệm quản lí.

Trong quá trình toàn cầu hoá, các công ty đa quốc gia  – MNCs đóng vai trò rất quan trọng. Các công ty này là nguồn tập trung công nghệ, đầu tư, nhân công và sức sản xuất, là những tập đoàn lớn như Microsoft, IBM hay General Electrics. Thống kê cho thấy các công ty đa quốc gia nắm trên 90% văn bằng độc quyền sáng chế trên thế giới. Để đạt được điều đó MNCs đã đầu tư rất nhiều về vật chất và trí tuệ. Do vậy, việc sao chép, mô phỏng, thậm chí đánh cắp nguyên vẹn các thành quả sáng tạo kỹ thuật – kinh doanh của đối thủ cạnh tranh là biện pháp hấp dẫn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận và chiến thắng. Nguy cơ chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ là nguy cơ thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh tế công nghiệp hoá. Bởi vậy, việc ngăn chặn nguy cơ này là vấn đề ám ảnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, họ sẽ chỉ chấp nhận chuyển giao công nghệ và thực hiện các biện pháp đầu tư, nếu họ nhận thấy đủ cơ hội khai thác an toàn, hiệu quả công nghệ đó ở quốc gia dự định đầu tư. Cần thấy rằng, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng lo sợ rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc thiếu kiểm soát đối với công nghệ được chuyển giao và như vậy công nghệ chuyển giao này sẽ dễ trở thành mục tiêu bị vi phạm bản quyền. Vì lẽ đó, xác lập được một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hiệu quả và việc tuân thủ hệ thống quản lý bảo hộ sở hữu trí tuệ một cách nghiêm túc sẽ là một điều kiện tiên quyết tác động đến quyết định đầu tư và chuyển giao của các công ty nước ngoài.

Vì vậy, đối với một nước đang phát triển và nỗ lực hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu như Việc Nam, việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thành công là điều kiện tiên quyết để thu hút vốn đầu tư nước ngoài(FDI) - một nguồn lực rất lớn giúp chúng ta phát triển.

Nghiên cứu đề tài này mang lại cho nhóm chúng tôi rất nhiều hữu ích nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách. Được sự định hướng, khuyến khích và giúp đỡ nhiệt tình của GS.TS. Võ Thanh Thu - Giảng viên hướng dẫn và các sự nhất trí, đồng lòng của cả nhóm; chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này.

Mặc dù với tinh thần làm việc nghiêm túc và sự nỗ lực cao của mỗi thành viên nhưng vì thời gian ngắn, nguồn tài liệu hạn chế, sự phối hợp các thành viên khó khăn và do cả khả năng, kinh nghiệm của nhóm còn hạn chế nên không phải mọi vấn đề liên quan đến đề tài đã được trình bày đầy đủ với sự sâu sắc cần thiết và cũng không thể tránh khỏi sai sót trong phân tích, nhận định vấn đề và rút ra bài học. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được nhiều góp ý để đề tài này được mổ xẻ, nhìn nhận thấu đáo hơn đồng thời giúp chúng tôi ngày càng tiến bộ hơn trong quá trình luyện tập kỹ năng cần thiết của những học viên cao học.

Thong ke