So sánh phí đăng ký nhãn hiệu giữa Việt Nam và Chi Lê

Hai bên đã hiểu biết và có mối quan hệ ngoại giao từ năm 1973 từ thế Cố Tổng thống Agende. Lãnh đạo hai bên đều quan tâm đến việc phát triển toàn diện kể cả về kinh tế lẫn ngoại giao. Trong đó Việt Nam coi Chi Lê là mua t đối tác chiến lược tại khu vực Nam Mô. Thể hiện qua việc Chính phủ Việt Nam mời năm Nhà lãnh đạo, trong đó có tổng thống Chi Lê, Bà Michelle Bachelet, thăm chính thức Việt Nam trong dịp tổ chức hội nghị APEC tháng 1 1 năm 2006 tại Hà Nội.

Các mặt hàng xuất nhập khẩu của mỗi bên có cơ cấu rất khác nhau. Trong đó Việt Nam xuất khẩu những mặt hàng tiêu dùng mà Chi Lê không sản xuất hoặc sản xuất với số lượng ít. Chi Lê xuất khẩu qua Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng về nguyên liệu để sản xuất.

Nhằm bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư tại Chi Lê, doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện việc đăng ký độc quyền nhãn hiệu tại Chi Lê. Khi thực hiện việc đăng ký nhãn hiệu, cũng giống như ở Việt Nam doanh nghiệp cần chuẩn bị các loại phí sau:

    + Phí tra cứu.

    + Phí nộp đơn.

    + Phí cấp bằng.

    + Phí gia hạn.

Doanh nghiệp hai nước khi tiến hành đăng ký nhãn hiệu đều phải chuẩn bị những loại phí trên, tuy nhiên về mức phí bao nhiêu thì ở mỗi quốc gia lại có cách tính khác nhau, phí được tính bằng (USD).

                                                       Quốc gia

           Nội dung

 

 

Việt Nam

 

 

Chi Lê

 

 

 

Phí tra cứu

 

 

Nhóm đầu tiên

 

100

265

 

Nhóm thứ hai trở đi

 

100

225

 

 

Phí nộp đơn

 

 

Nhóm đầu tiên

 

 

300

 

810

 

Nhóm thứ hai trở đi

 

 

150

 

315

 

Từ sản phẩm thứ 7 trở đi

 

 

30

 

free

 

 

Phí cấp bằng

 

 

Nhóm đầu tiên

 

80

free

 

Nhóm thứ hai trở đi

 

80

 

free

 

 

Phí gia hạn

 

 

Nhóm đầu tiên

 

400

610

 

Nhóm thứ hai trở đi

 

 

 

 

 

 

 

Thong ke