BẢO HỘ PHÁP LÝ NHÃN HIỆU

Nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ kể từ ngày Cục sở hữu trí tuệ ra văn bằng quyết định cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá.


1. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là 10 năm tính từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ.
Thời hạn bảo hộ có thể được kéo dài mỗi lần nhiều nhất là 10 năm tính từ thời điểm kết thúc thời hạn trước. Để tiếp tục kéo dài thời hạn bảo hộ, chủ nhãn hiệu phải nộp đơn xin gia hạn cho Cục sở hữu trí tuệ 6 tháng trước khi kết thúc thời hạn bảo hộ và phải nộp lệ phí theo quy định.
Trong thời hạn hiệu lực, chủ nhãn hiệu hàng hoá được độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá để đánh dấu các hàng hoá liệt kê trong danh mục hàng hoá mang nhãn hiệu đó, trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ của mình trên lãnh thổ Việt Nam.


2. Chủ nhãn hiệu hàng hoá có trách nhiệm bảo đảm và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá của mình, hàng hoá nào không còn bảo đảm chất lượng theo quy định thì không được bày bán trên thị trường của nhãn hiệu đã được đăng ký.


3. Chủ nhãn hiệu hàng hoá có quyền chuyển nhượng từng phần hoặc toàn bộ quyền sở dụng nhãn hiệu hàng hoá cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác trên cơ sở hợp đồng, với điều kiện cơ sở tiếp nhận phải đảm bảo tính năng và chất lượng của hàng hoá mang nhãn hiệu đó. Trường hợp chuyển nhượng từng phần, trong hợp đồng phải quy định quyền kiểm tra chất lượng hàng hoá của chủ nhãn hiệu.


4. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá phải được đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ mới có giá trị pháp lý và chủ nhãn hiệu hàng hoá phải nộp lệ phí theo quy định.

Trong thời hạn hiệu lực, chủ nhãn hiệu hàng hoá có thể đề nghị Cục sửa đổi tên, địa chỉ của chủ nhãn hiệu, một vài chi tiết trong nhãn hiệu, danh mục háng hoá mang nhãn hiệu... Những sửa đổi này phải được ghi nhận trong sổ đăng bạ nhãn hiệu hàng hoá quốc gia và giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá. Chủ nhãn hiệu phải nộp các khoản lệ phí theo quy định.
Trong trường hợp việc sửa đổi dẫn đến làm thay đổi cơ bản nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký, chủ nhãn hiệu phải tiến hành xin đăng ký như nhãn hiệu hàng hoá mới.


* Việc bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá sẽ bị huỷ bỏ khi:


- Chủ nhãn hiệu làm đơn xin từ bỏ sự bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá trước khi kết thúc thời hạn hiệu lực.


- Cơ sở sản xuất, kinh doanh là chủ nhãn hiệu không còn tồn tại hoặc không tiếp tục hoạt động mà không có người thừa kế hợp pháp quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá.


- Nhãn hiệu hàng hoá không được sử dụng sau 5 năm tính từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ mà chủ nhãn hiệu không nêu ra được lý do chính đáng.


- Nhãn hiệu hàng hoá được coi là sử dụng khi nhãn hiệu được trình bày trên hàng hoá, bao bì, giấy tờ giao dịch hoặc quảng cáo hàng hoá...


- Có kết luận của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về chất lượng hàng hoá không đảm bảo tiêu chuẩn với nhãn hiệu đã đăng ký.


- Trong suốt thời hạn hiệu lực của nhãn hiệu hàng hoá, bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào, nếu phát hiện nhãn hiệu hàng hoá được cấp giấy chứng nhận không phù hợp với các quy định của điều lệ này, đều có quyền gửi đơn khiếu nại tố cáo cho Cục sáng chế. Trên cơ sở xem xét đơn, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có thể ra quyết định huỷ bỏ hiệu lực bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá đó.


* Người nộp hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá hoặc chủ nhãn hiệu hàng hoá có quyền khiếu nại về các quyết định liên quan đến việc:


- Không chấp nhận hố sơ xin đăng ký nhãn hiệu háng hoá.


- Không cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá.


- Đình chỉ hoặc huỷ bỏ hiệu lực bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá.


- Trong thời hạn 3 tháng tính từ ngày nhận được quyết định về các việc nêu trên, người khiếu nại phải nộp đơn khiếu nại cho Cục sở hữu trí tuệ.


- Trong thời hạn 2 tháng tính từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Cục sở hữu trí tuệ có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo kết quả cho người khiếu nại. Trường hợp không đạt được sự nhất trí giữa người khiếu nại và Cục sở hữu trí tuệ thì quyết định của Bộ khoa học là quyết định cuối cùng về các khiếu nại này.


* Bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của người khác mà không được phép hoặc sử dụng những dấu hiệu giống hoặc tương tự có khả năng làm người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác cho các loại hàng hoá đã được liệt kê trong danh mục đều bị coi là vi phạm độc quyền sử dụng của chủ nhãn hiệu hàng hoá.


Chủ nhãn hiệu hàng hoá có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của mình.


Các cơ sở sản xuất kinh doanh không đăng ký và không sử dụng nhãn hiệu hàng hoá theo quy định và những người vi phạm quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của chủ nhãn hiệu theo quy định thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy tố trước toà án và xét xử theo pháp luật hiện hành.

Thong ke